<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Lưu trữ di tu - Shop Chay Mộc</title>
	<atom:link href="https://shop.chaymoc.com/tag/di-tu/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link></link>
	<description>Một trang web mới sử dụng WordPress</description>
	<lastBuildDate>Tue, 27 Dec 2016 04:08:39 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.1</generator>
	<item>
		<title>Con đường tu &#8211; Con đường của sự khiêm nhường</title>
		<link>https://shop.chaymoc.com/con-duong-tu/</link>
					<comments>https://shop.chaymoc.com/con-duong-tu/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[webmaster]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 27 Dec 2016 04:08:39 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Đường đạo]]></category>
		<category><![CDATA[Con đường tu]]></category>
		<category><![CDATA[dao phat]]></category>
		<category><![CDATA[di tu]]></category>
		<category><![CDATA[đường tu]]></category>
		<category><![CDATA[tìm về chính mình]]></category>
		<category><![CDATA[tu là gì]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chaymoc.com/?p=4395</guid>

					<description><![CDATA[<p>Con đường tu là con đường của sự khiêm nhường, của nỗ lực vô hạn độ. Tenzin Palmo, ni cô Tây phương đầu tiên đã lập am thiền trên cao độ hơn 4000m ở Hymalaya...</p>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com/con-duong-tu/">Con đường tu &#8211; Con đường của sự khiêm nhường</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com">Shop Chay Mộc</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Con đường tu là con đường của sự khiêm nhường, của nỗ lực vô hạn độ. Tenzin Palmo, ni cô Tây phương đầu tiên đã lập am thiền trên cao độ hơn 4000m ở Hymalaya&#8230;</p>
<p><img fetchpriority="high" decoding="async" class="aligncenter wp-image-7155 size-full" src="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/chuong-hoang-hon-1.jpg" alt="Con đường tu - Con đường của sự khiêm nhường" width="500" height="278" srcset="https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/chuong-hoang-hon-1.jpg 500w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/chuong-hoang-hon-1-300x167.jpg 300w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/chuong-hoang-hon-1-1x1.jpg 1w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/chuong-hoang-hon-1-10x6.jpg 10w" sizes="(max-width: 500px) 100vw, 500px" /></p>
<p style="text-align: justify;">Ba mươi năm trước, khi mới mười lăm, mười sáu tuổi, tôi đã cảm thấy mình có “căn tu”. Ở cái thời mà đi chùa là điều ít ai nghĩ tới, trừ dịp lễ tết, thì tôi đã coi nó như ngôi nhà thứ hai của mình. 20 tuổi, luận văn tốt nghiệp đại học tôi chọn đề tài: “Tam giáo đồng nguyên trong tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng”, đề tài mà chính các thầy cũng lắc đầu bảo quá khó. Cái thời trẻ nó vậy. Gần hai năm<span class="text_exposed_show"> ròng rã tôi vùi đầu vào nghiên cứu đủ loại sách có thể tìm thấy lúc đó về Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo … Triết học và tôn giáo là loại sách tôi yêu thích nhất từ bé và tới giờ vẫn vậy.</span></p>
<p style="text-align: justify;">Ba mươi năm, càng đọc lắm, biết nhiều, càng cảm thấy mịt mù. Gặp gỡ không ít người tu tập, từ Công giáo tới Phật giáo và các nhóm nho nhỏ hơn, từ Đông sang Tây, từ nước ngoài tới trong nước. Lời giảng có thể hay, nhưng khi nhìn thấy họ trong đời sống, tôi không khỏi nhiều lần ngán ngẩm. Chỉ khi cơ duyên đưa tôi vào con đường tu tập, tôi mới thực sự ngộ ra điều làm cho những kiến thức “lý thuyết” của mình cứ không đủ sức thuyết phục mình. Đó chính là sự thực hành miên mật, từng giây từng phút, nỗ lực không ngừng.</p>
<p style="text-align: justify;">Con người tâm linh, con người tu tập, với tôi, là con người sống với ý thức rằng mình là một thực thể tinh thần vi tế, với những ràng buộc về thể xác tuy lớn, nhưng nó không thể nắm quyền quyết định cuộc sống của mình. Điều này để nói ra thì rất dài, nhưng tựu trung lại, tôi chỉ đơn giản thực hành một điều duy nhất: Mình chính là mình, sống, nói và làm đúng những gì mình đã nghĩ / nói ra.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói tình yêu thương thì rất dễ. Nhưng để thực hành từ bỏ sát sinh, ăn chay, tha thứ và ôm lấy những người làm mình tổn thương, kẻ thù của mình, để yêu một người mà không đòi hỏi sở hữu … thì lại là chuyện khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói bình an thì rất dễ. Nhưng để mỉm cười và thấy lòng mình tĩnh lặng khi người khác lăng mạ mình, chỉ trích mình, đạp đổ nồi cơm sinh kế của mình, mưu hại người thân của mình &#8230; thì lại là chuyện khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói tự do thì rất dễ. Nhưng để thấy được xiềng xích gông cùm mình từ chuyện phải lo giữ nhan sắc, lo thu hút người khác, lo bị mất uy tín, hay mở miệng là trích dẫn các thầy này sách nọ … thì lại là chuyện khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói sống vui thì rất dễ. Nhưng sống vui mà cái vui đó chỉ là tạm bợ, là phép thắng lợi tinh thần, kiểu đà điểu chúi đầu trong cát và không dám đối mặt với sự yếu kém của bản thân …. Thì cái vui đó sẽ được bao lâu?</p>
<p style="text-align: justify;">Con đường tu là con đường của sự khiêm nhường, của nỗ lực vô hạn độ. Tenzin Palmo, ni cô Tây phương đầu tiên đã lập am thiền trên cao độ hơn 4000m ở Hymalaya, thiền định ròng rã 12 năm trong cô độc. Trong cuốn: “Am thiền trong băng tuyết”, khi được hỏi bà đã học được những gì sau 12 năm ấy, bà nói: “Không phải là được những gì, mà là đã từ bỏ được những gì”. Một câu nói ấy của bà, dạy tôi nhiều hơn vô số vị thầy khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với tôi, chỉ dấu duy nhất để nhìn những người luôn nói “sống tâm linh”, hành thiền, dạy thiền … chính là nhìn vào cách họ thể hiện bản thân trước những vấn đề đến với mình.Nhìn vào cách họ làm những gì họ nói.</p>
<p style="text-align: justify;">Thiền không phải là cứu cánh (mục đích), nó là phương tiện. Nó là con đường, nhưng con đường đó dẫn ta tới đâu, thì điều đó tùy thuộc ở bạn.<br />
Trên con đường đó, với tôi, nếu chỉ được mang theo một bạn đồng hành duy nhất, tôi khuyên bạn nên mang theo sự khiêm nhường.</p>
<p style="text-align: right;"><em>Facebook: <a class="_hli" href="https://www.facebook.com/da.lien.545" data-hovercard="/ajax/hovercard/user.php?id=100006596979112" data-hovercard-prefer-more-content-show="1">Phuong Hoa Le</a></em></p>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com/con-duong-tu/">Con đường tu &#8211; Con đường của sự khiêm nhường</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com">Shop Chay Mộc</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://shop.chaymoc.com/con-duong-tu/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Thầy tu có vợ</title>
		<link>https://shop.chaymoc.com/thay-tu-co-vo/</link>
					<comments>https://shop.chaymoc.com/thay-tu-co-vo/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[webmaster]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 20 Dec 2016 03:23:09 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Vào cửa Phật]]></category>
		<category><![CDATA[dao phat]]></category>
		<category><![CDATA[di tu]]></category>
		<category><![CDATA[tu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chaymoc.com/?p=3351</guid>

					<description><![CDATA[<p>&#8220;Thương sao cho vẹn thì thương&#8221; là một câu trong truyện Kiều, ta có thể nói như vậy: Tu sao cho vẹn thì tu. Theo truyền thống Phật Giáo ở các nước Nam Tông như Thái Lan, Miến...</p>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com/thay-tu-co-vo/">Thầy tu có vợ</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com">Shop Chay Mộc</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<blockquote><p>&#8220;Thương sao cho vẹn thì thương&#8221; là một câu trong truyện Kiều, ta có thể nói như vậy: Tu sao cho vẹn thì tu.</p></blockquote>
<p>Theo truyền thống Phật Giáo ở các nước Nam Tông như Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan, Lào, Cam Bốt, các vị Sư tu hành lâu năm hoàn tục vẫn được Phật tử kính nể vì họ quan niệm rằng vị Sư đó dù hoàn tục nhưng kiến thức và phẩm chất đạo đức của ông vẫn không mất. Ngược lại trong giới Phật tử Việt Nam thì lại quan niệm việc hoàn tục là một sự thất bại, có nghĩa là vị Sư đó tu hành không đến nơi đến chốn, không có nghị lực để bị sa ngã, v.v… Vì đa số Phật tử quan niệm <span class="text_exposed_show">như thế nên các vị Sư hoàn tục thường có mặc cảm tội lỗi, hoặc xấu hổ rồi đọan tuyệt hẳn với đạo Phật, không dám bén mảng tới chùa nữa. Như vậy không những chùa mất đi một vị Tăng mà còn mất luôn một người Phật tử nữa. Đây là một điều đáng tiếc và quan niệm này hãy còn thiếu nhiều thương yêu hiểu biết.</span></p>
<p><span class="text_exposed_show">“Chiếc áo không làm nên thầy tu” kia mà! Sao chúng ta cứ mãi vô minh cố chấp vào hình thức? Tu là phải như thế này, phải như thế kia!</span></p>
<div class="text_exposed_show">
<p>Từ lúc vào chùa đi tu đến nay, tôi đã chứng kiến nhiều huynh đệ hoàn tục. Ban đều tôi cũng bất mãn, thầm trách thầy tôi sao không khuyên răn ngăn cản họ. Nhưng rồi với thời gian, tôi hiểu và thông cảm, thấy rằng họ còn những bài học cần phải học, cần phải hiểu để tiến hóa. Đạo không nhất thiết phải ở trong chùa hay trong kinh sách mà Đạo ở khắp mọi nơi.<br />
Có nhiều Phật tử phê phán: “Tội nghiệp Thầy đó nghiệp nặng, hoặc Sư Cô đó còn nặng nợ trần gian”. Họ làm như mình không còn nặng nợ nữa vậy. Có biết đâu mình cũng nặng nợ như ai nhưng trốn nợ hoặc chưa tới lúc phải trả đó thôi.</p>
<p style="text-align: right;"><em>(trích Đạo Là Gì? – Thích Trí Siêu)</em></p>
<p style="text-align: right;"><img decoding="async" class="wp-image-5714 size-full aligncenter" src="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/thầy-tu-có-vợ.jpg" alt="Thầy tu có vợ" width="800" height="445" /></p>
<p>Người Phật tử Việt Nam nên học tinh thần cởi mở của Phật tử Thái. Tu cũng có nhiều đường tu. Là tu sĩ thì thật là tu sĩ, nghĩa là người tu sĩ phải thực tập công phu và nếp sống hàng ngày của người tu sĩ, nghĩa là giữ giới tịnh hạnh, chứ đừng nấp bóng từ bi mà lười nhác, hưởng thụ, lợi dụng, phá giới&#8230; Đừng chỉ làm hình thức của một tu sĩ nhưng bên trong thân tâm không có chất liệu của một tu sĩ giống như cây có vỏ rất tốt đẹp nhưng ruột cây bị thối hết. Làm như thế chỉ uổ<span class="text_exposed_show">ng phí một đời người, làm mất đẹp người tu sĩ và giảm phẩm chất tăng đoàn của Bụt.</span></p>
<div class="text_exposed_show">
<p>Nếu làm tu sĩ mà có hạnh phúc, thích tu tâp hàng ngày, thì vị ấy tiếp tục làm tu sĩ. Nếu ở trong tu viện một thời gian mà tu sĩ thấy rõ không thể tu tiếp, không còn thích thú đời tu, không cảm thấy hạnh phúc tu tập hàng ngày, thì vị ấy nên cởi áo, xả giới trở về đời sống thế gian và có thể tu tập như một người cư sĩ, làm một công nhân tốt, làm một người con hiền còn hay hơn.</p>
<p>&#8220;Thương sao cho vẹn thì thương&#8221; là một câu trong truyện Kiều, ta có thể nói như vậy: Tu sao cho vẹn thì tu.</p>
<p style="text-align: right;"><em>(Facebook: Chân Pháp Đăng</em>)</p>
</div>
</div>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com/thay-tu-co-vo/">Thầy tu có vợ</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com">Shop Chay Mộc</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://shop.chaymoc.com/thay-tu-co-vo/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vì sao đi tu mà không có hạnh phúc</title>
		<link>https://shop.chaymoc.com/vi-sao-di-tu-ma-khong-co-hanh-phuc/</link>
					<comments>https://shop.chaymoc.com/vi-sao-di-tu-ma-khong-co-hanh-phuc/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[webmaster]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 20 Dec 2016 02:00:50 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Vào cửa Phật]]></category>
		<category><![CDATA[dao phat]]></category>
		<category><![CDATA[di tu]]></category>
		<category><![CDATA[tu sai]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chaymoc.com/?p=3331</guid>

					<description><![CDATA[<p>Một sư cô cầm điện thoại suốt ngày, giao lưu, lên mạng… mà không để trái tim trong công phu, thì Trời, Bụt cứu cũng không được. Nó là vấn đề tâm ý bất an, chạy theo duyên...</p>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com/vi-sao-di-tu-ma-khong-co-hanh-phuc/">Vì sao đi tu mà không có hạnh phúc</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com">Shop Chay Mộc</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<blockquote><p>Một sư cô cầm điện thoại suốt ngày, giao lưu, lên mạng… mà không để trái tim trong công phu, thì Trời, Bụt cứu cũng không được. Nó là vấn đề tâm ý bất an, chạy theo duyên bên ngoài. Nếu sư cô không dứt khoát với cách sống ấy để thực tập trở lại từ đầu thì sư cô khó tiếp tục giữ được nếp sống cao đẹp này.</p></blockquote>
<p><img decoding="async" class="alignnone wp-image-5733 size-full" src="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/đi-tu.jpg" alt="Vì sao đi tu mà không có hạnh phúc" width="800" height="445" /></p>
<p><em><strong>Bạn trẻ:</strong></em></p>
<p>Thầy ơi! Sao con thấy đời tu mong manh quá! Con có quen một sư cô còn trẻ tuổi, đã tu lâu lâu, nhưng sư cô không có hạnh phúc. Mọi người có nhiều lời khuyên cho sư cô, nhưng sư cô vẫn chưa quyết định định hướng rõ cho mình. Sư cô còn muốn chạy theo vật chất, cả ngày cứ cầm điện thoại. Đi chơi với con, con nói hoài về chuyện này, sư cô không buồn mà cười thôi. Sư cô còn ham chơi lắm. Một sư cô khác đã về đời. Là người mới xuất gia, con cảm thấy thương các sư <span class="text_exposed_show">cô quá. Thầy có lời dạy gì về chuyện này cho con được không?</span></p>
<div class="text_exposed_show">
<p><em><strong>Chan:</strong></em></p>
<p>Trước hết con phải thương cho sư cô ấy. Nó là một tai nạn lớn, sự thiếu may mắn, thiếu phước đức của một đời tu sĩ.</p>
<p>Việc gì cũng có nguyên nhân hết, con ạ. Thương phải hiểu! Do trong đời sống hàng ngày, sư cô ấy không để hết lòng chú tâm nơi sự thực tập hàng ngày mà cứ sống hời hợt, kiểu tu hình thức hoặc theo bản năng, tập khí, nên nó đưa tới tình trạng bế tắc, chán tu. Khi chán tu rồi thì tâm ý không yên, do đó sư cô muốn đi nơi này nơi khác. Nhưng đi đâu sư cô ấy cũng không có hạnh phúc, bởi vì tâm bất an, ý chạy lung tung giống như người đang ngồi trên núi lửa. Đó là trạng thái &#8220;đứng núi này trông núi nọ&#8221; mà thôi.</p>
<p>Một sư cô cầm điện thoại suốt ngày, giao lưu, lên mạng… mà không để trái tim trong công phu, thì Trời, Bụt cứu cũng không được. Nó là vấn đề tâm ý bất an, chạy theo duyên bên ngoài. Nếu sư cô không dứt khoát với cách sống ấy để thực tập trở lại từ đầu thì sư cô khó tiếp tục giữ được nếp sống cao đẹp này.</p>
<p>Đó cũng là tiếng chuông chánh niệm, là bài học cho con và những người tu sĩ khác. Vì vậy cho nên, tu tập phải có trái tim và tấm lòng tha thiết, chứ tu khơi khơi, rồi lén lút để chơi thì uống đời tu lắm. Mỗi khi tâm thế gian trổi lên thì khó mà điều phục, chuyển hoá được.</p>
<p>Con có biết không? Xuất gia thì dễ nhưng tu hành không phải dễ lắm đâu! Con phải nổ lực, chú tâm, hết lòng, tha thiết thì mới có niềm vui, hạnh phúc trong sự thực tập hàng ngày nên con mới thích tu. Mỗi ngày thêm một niềm vui, mỗi ngày thêm một chút tự do, mỗi hơi thở một sự an tâm, mỗi bước chân một cuộc trở về. Lâu ngày con sẽ thực hiện được lý tưởng cao đẹp là tự do từ mọi ràng buộc. Đó là hiếu thảo với tổ tiên, đó là dễ thương với Thầy Tổ.</p>
<p>Người tu sĩ về đời là một việc đáng xót thương. Người phật tử Việt Nam nên có con mắt khoan dung đối với họ. Có ai muốn như vậy đâu, nhưng do thiếu may mắn, thiếu phước đức, thiếu nổ lực… Trở về đời, ai cũng đều vất vả cả hết, con ạ. Lúc ấy người đó mới tiếc đời sống xuất gia nhưng nó đã muộn rồi.</p>
<p>Theo thầy làm người xuất gia hay tại gia thì cũng không sao, nhưng làm gì thì ta cũng phải có tấm lòng, để tâm huyết vào nếp sống ấy thì đời sống mới có sự quân bình và có thể thành đạt những gì mình hướng tới. Còn không thì thật là uổng phí một kiếp người.</p>
<p style="text-align: right;"><em>Facebook: Chan Phap Dang</em></p>
</div>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com/vi-sao-di-tu-ma-khong-co-hanh-phuc/">Vì sao đi tu mà không có hạnh phúc</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com">Shop Chay Mộc</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://shop.chaymoc.com/vi-sao-di-tu-ma-khong-co-hanh-phuc/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Đi tu &#8211; Hành trình khám phá tâm linh</title>
		<link>https://shop.chaymoc.com/tai-sao-nhieu-nguoi-chon-con-duong/</link>
					<comments>https://shop.chaymoc.com/tai-sao-nhieu-nguoi-chon-con-duong/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[webmaster]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 05 Dec 2016 03:34:15 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Vào cửa Phật]]></category>
		<category><![CDATA[dao phat]]></category>
		<category><![CDATA[di tu]]></category>
		<category><![CDATA[duc phat]]></category>
		<category><![CDATA[tu phat]]></category>
		<category><![CDATA[vượt qua đau khổ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chaymoc.com/?p=2490</guid>

					<description><![CDATA[<p>Nhiều người cứ nghĩ đến đi tu là khổ. Với họ, đi tu chỉ là cạo đầu cho trọc, khoác lên mình mấy cái áo nâu sòng. Sáng tối tụng kinh niệm Phật. Quyét chùa lau tượng, chuyên...</p>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com/tai-sao-nhieu-nguoi-chon-con-duong/">Đi tu &#8211; Hành trình khám phá tâm linh</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com">Shop Chay Mộc</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p class="tt-detail" style="text-align: justify;">Nhiều người cứ nghĩ đến đi tu là khổ. Với họ, đi tu chỉ là cạo đầu cho trọc, khoác lên mình mấy cái áo nâu sòng. Sáng tối tụng kinh niệm Phật. Quyét chùa lau tượng, chuyên đi cúng lễ. Cuộc sống vậy chán không à, sao hấp dẫn bằng cuộc sống sôi động ngoài kia. Tại sao lại vào chùa làm chi?</p>
<p class="tt-detail" style="text-align: justify;">Đi tu không có nghĩa là phải vào chùa, cạo bỏ râu tóc mà phải được hiểu rộng hơn. Đi tu là một quá trình khám phá tâm linh. Chúng ta học ứng dụng những lời Phật dạy trong đời sống hàng ngày của mình.</p>
<div class="f-detail">
<p style="text-align: justify;"><a href="https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/Tu-hanh-khong-phai-chi-vi-de-gap-Phat-ma-la-de-tro-ve-voi-chinh-minh.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-6205 size-full" title="Đi tu - Hành trình khám phá tâm linh" src="https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/Tu-hanh-khong-phai-chi-vi-de-gap-Phat-ma-la-de-tro-ve-voi-chinh-minh.jpg" alt="Đi tu - Hành trình khám phá tâm linh" width="800" height="445" srcset="https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/Tu-hanh-khong-phai-chi-vi-de-gap-Phat-ma-la-de-tro-ve-voi-chinh-minh.jpg 800w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/Tu-hanh-khong-phai-chi-vi-de-gap-Phat-ma-la-de-tro-ve-voi-chinh-minh-300x167.jpg 300w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/Tu-hanh-khong-phai-chi-vi-de-gap-Phat-ma-la-de-tro-ve-voi-chinh-minh-768x427.jpg 768w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/Tu-hanh-khong-phai-chi-vi-de-gap-Phat-ma-la-de-tro-ve-voi-chinh-minh-1x1.jpg 1w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/Tu-hanh-khong-phai-chi-vi-de-gap-Phat-ma-la-de-tro-ve-voi-chinh-minh-10x6.jpg 10w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/Tu-hanh-khong-phai-chi-vi-de-gap-Phat-ma-la-de-tro-ve-voi-chinh-minh-600x334.jpg 600w" sizes="auto, (max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></p>
<div>
<p style="text-align: justify;"><strong>Tu là chuyển hóa</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Chuyển hóa bản thân từ vô minh đến trí tuệ, là tìm kiếm, khám phá con đường đưa đến hạnh phúc và an lạc. Cho nên ông bà mình có câu “Tu là cõi phúc, tình là dây oan”. Tu là cõi phúc vì mình đang tìm đường vượt cõi phiền não, khổ đau đến cõi phúc lạc, tự tại.Trong kinh Người áo trắng do Sư ông Nhất Hạnh dịch nói về pháp tu của một người đệ tử tại gia như sau: “Xá Lợi Phất, thầy nên ghi nhớ rằng một người đệ tử áo trắng nếu thực tập được năm giới pháp và tu tập bốn tâm cao đẹp là đã chấm dứt được sự sa đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và các đường dữ khác, đã chứng đạt được quả vị Tu-đà-hoàn, không còn thối đọa vào các ác pháp. Người ấy chắc chắn đang đi về nẻo chánh giác và chỉ cần qua lại tối đa là bảy lần nữa trong các cõi trời và người là có thể đạt tới biên giới của sự hoàn toàn giải thoát diệt khổ”. Như vậy, đi tu là đi tìm, khám phá một phương pháp hành trì để chuyển hóa tâm linh và con người mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng nếu tu không khéo có thể là ngược lại! Như trong kinh Người bắt rắn, Sư ông Nhất Hạnh dịch và giải: “Họ cũng giống như người đi bắt rắn mà biết sử dụng một khúc cây có nạng sắt: Khi đi đến vùng hoang dã, thấy rắn lớn, họ ấn nạng ngay xuống cổ rắn và lấy tay bắt ngay đầu rắn. Rắn kia tuy có thể quẫy đuôi, quấn tay, quấn chân hoặc một bộ phận khác của cơ thể người bắt rắn, nhưng không thể nào mổ người ấy được. Bắt rắn như vậy không cực khổ mà cũng không lao nhọc, chỉ vì người ấy biết rõ thủ thuật bắt rắn. Người con trai hoặc con gái nhà lành khi học hỏi kinh điển cũng phải khéo léo tiếp nhận văn và nghĩa kinh một cách không đảo lộn thì mới nắm được Chánh pháp. Họ không học hỏi với mục đích ba hoa tranh cãi mà chỉ học với mục đích tìm cầu giải thoát. Họ không cần trải qua những cực khổ và nhọc nhằn”.</p>
<p style="text-align: justify;">Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm! Nếu mình không biết bắt rắn bằng cách lấy nạng đè đầu của nó, mình sẽ bị nó cắn lại. Cho nên có thể nói rằng tu là sống theo lời Phật dạy: Biết sống hạnh phúc an lạc, xa lìa phiền não, khổ đau. Chính vì vậy mà khi Phật lần đầu chuyển pháp luân đã dạy Bốn sự thật vô thượng (Tứ Thánh đế) chỉ cho chúng ta con đường đưa đến chấm dứt khổ đau. Nếu chúng ta tự nhận mình đang tu mà không tìm thấy an lạc, như vậy là mình đang tu sai đường, không đúng như Chánh pháp Phật đã dạy. Đừng để những ngộ nhận giáo lý hay lời Phật dạy là quả vị chứng đắc, nên nhớ đó chỉ là “cái bè giáo lý” đưa mình sang bờ giác ngộ.  Phật dạy “Nhất thiết tu-đa-la như tiêu chỉ nguyệt”, nghĩa là tất cả các lời Phật dạy, hay Kinh tạng chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng. Mặt trăng mới chính là mục tiêu để giác ngộ. Các pháp môn, kinh điển chỉ là ngón tay chỉ hướng cho chúng ta mà thôi! Nếu chúng ta ngộ nhận ngón tay là mặt trăng thì sẽ hối tiếc khôn nguôi!</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Các pháp môn khác</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Pháp môn là những phương pháp hành trì, nếu chúng ta chọn một pháp môn thích hợp với mình thì việc tu học sẽ có tiến bộ. Pháp môn là phương pháp, là chìa khóa để mở cánh cửa tâm linh của mình. Để tìm ra đúng chìa khóa mở cửa, chúng ta phải thử nghiệm hành trì. Dùng trí tuệ để quán chiếu, soi sáng những thành quả đạt được qua công phu tu tập. Nếu thấy có tiến bộ, như vậy là mình đã tìm ra đúng chiếc chìa khóa cho tâm linh mình; bằng không mình phải tiếp tục tìm kiếm và thử nghiệm.</p>
<p style="text-align: justify;">Như pháp môn Tịnh độ hay còn gọi là pháp môn Niệm Phật, Tịnh độ không chỉ là một cảnh giới mà còn là một trạng thái của tâm. Cho nên xưa chư Tổ có dạy “Duy tâm Tịnh độ” hay “Cực lạc hiện tiền”, có nghĩa là Tịnh độ đến từ tâm và Cực lạc không phải đợi vãng sanh mới có, mà hiện diện ngay trong phút giây này! Nếu chúng ta thực tập pháp môn này mà tâm mình vẫn còn phiền não, sân hận thì rõ ràng chúng ta hoặc là đã thực tập sai, hay là đã chọn không đúng pháp môn, không đúng chìa khóa.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong giáo nghĩa Tứ tất đàn &#8211; Bốn tiêu chuẩn giáo hóa được thành tựu, Phật dạy các pháp môn tùy theo căn cơ của chúng sinh, như tùy bệnh mà cho thuốc. Do vậy, việc tu tập cần phải dụng tâm, quán xét mỗi khi hành trì để tìm đúng phương pháp chính đáng cho mình, không nên quá cố chấp vì chính sự hiểu biết của mình cũng phải trải qua những thay đổi tùy theo mức độ hành trì, thử nghiệm của mình. Do đó, chúng ta phải nắm cho được cái “tùy duyên bất biến và bất biến tùy duyên” ở trong đạo Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói đến việc tùy bệnh cho thuốc, có nghĩa là Đức Phật muốn chúng ta sau khi thử qua phương thuốc chữa trị của Ngài, mình phải cảm thấy kết quả của việc “uống” thuốc đó. Cho nên Phật dạy: Tu tập đúng Chánh pháp sẽ thành tựu được “hiện pháp lạc trú”, nghĩa là mình sẽ tìm thấy an lạc, hạnh phúc ngay trong lúc hành trì, không phải chờ đợi về sau. Trong thời Phật còn tại thế, Ngài đã quở trách một số thầy có quan niệm là tu tập để có quả tốt về sau, cũng như một số giáo sĩ ngoại đạo đến hỏi Ngài về việc này.  Phương pháp thực hành “hiện pháp lạc trú” mà các nhà Phật học trình bày trong nhiều sách báo, tạp chí Phật giáo là tinh thần Phật dạy trong kinh Tương ưng bộ (phẩm Cây lau, kinh Rừng núi do HT. Minh Châu dịch):</p>
<p style="text-align: left;"><em>Không than việc đã qua,<br />
Không mong việc sắp tới,<br />
Sống ngay với hiện tại,<br />
Do vậy, sắc thù diệu.<br />
Do mong việc sắp tới,<br />
Do than việc đã qua,<br />
Nên kẻ ngu héo mòn,<br />
Như lau xanh rời cành.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Cũng với nội dung này, kinh Trung bộ (kinh Nhứt dạ hiền giả) cũng có bài kệ:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Quá khứ không truy tìm<br />
Tương lai không ước vọng.<br />
Quá khứ đã đoạn tận,<br />
Tương lai lại chưa đến,<br />
Chỉ có pháp hiện tại<br />
Tuệ quán chính ở đây.<br />
Không động, không rung chuyển<br />
Biết vậy, nên tu tập.</em></p>
<p style="text-align: justify;">“<em>Chỉ có pháp hiện tại, tuệ quán chính ở đây</em>” cho chúng ta thấy hoa trái, kết quả của việc đi tu không phải là một sự mong chờ, hy vọng viển vông, mà là một sự gặt hái cụ thể, ngay trong hiện tại!  Không những thế, quả hiện tại vui còn mang chúng ta đến một tương lai vui. Như trong kinh Trung bộ (Phẩm Ðại / Tiểu kinh pháp hành, do HT. Minh Châu dịch):</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Hiện tại vui, sau vui<br />
Là từ bỏ mười ác<br />
Với tâm trạng hân hoan<br />
Chết sinh vào cõi lành<br />
Như thuốc ngon lại bổ.<br />
Lại như mặt trời lên<br />
Tan mây mù hắc ám<br />
Pháp hành hiện tại lạc<br />
Quả tương lai cũng vui<br />
Do Như Lai giảng dạy<br />
Phá tan mọi tà thuyết.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Tất nhiên, để thụ hưởng được sự an lạc này, chúng ta phải thay đổi cách sống và cư xử hàng ngày. Những thói quen, tập khí cũ đưa ta đến khổ đau phải được cắt đứt, đình chỉ.  Mình giống như con kén đang từ từ lột xác để hóa thành con bướm đẹp đẽ rực rỡ! Chính trong quá trình chuyển hóa, lột xác này chúng ta mới cảm nghiệm sâu sắc được pháp môn an lạc ngay trong hiện tại. Như Sơ tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông (1258-1308) trong bài phú Cư trần lạc đạo:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Ở đời vui đạo hãy tùy duyên<br />
Đói đến thì ăn, nhọc ngủ liền<br />
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm<br />
Đối cảnh không tâm, chớ hỏi thiền.</em></p>
<p style="text-align: justify;">(HT.Thanh Từ dịch)</p>
<p style="text-align: justify;">Vậy hành trình khám phá tâm linh là con đường đi tu để thoát khổ. Chúng ta có thể tìm thấy trong tất cả các Kinh tạng, Đức Phật luôn luôn nói về mục đích của đạo Phật là giải thoát mọi đau khổ, vì vậy các pháp môn được thiết lập, mọi nỗ lực tu tập đều hướng về mục tiêu ấy. Mà hễ hết khổ là vui, là hạnh phúc!</p>
<p style="text-align: justify;">Tóm lại, đi tu là nhìn lại những đầu mối gây đau khổ mà do chính mình đã tạo ra trong quá khứ, hay trong hiện tại. Và, lần lần tháo gỡ (chuyển hóa) những mối gút mắc, hay thay đổi cách sống, thái độ. Nếu mình chỉ chờ đợi một cơ may nào đó xảy đến để mình có hạnh phúc là một sự mơ tưởng viển vông, không đúng Chánh pháp như Phật đã dạy. Một người đi tu có chánh kiến là biết mình phải chọn một pháp môn thích hợp và ra công hành trì để chuyển hóa chính mình. Nếu chỉ “nằm chờ sung rụng” thì biết ngày nào có được an lạc thật sự?!</p>
<p style="text-align: right;"><em>Nguồn: giacngo.vn</em></p>
</div>
</div>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com/tai-sao-nhieu-nguoi-chon-con-duong/">Đi tu &#8211; Hành trình khám phá tâm linh</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com">Shop Chay Mộc</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://shop.chaymoc.com/tai-sao-nhieu-nguoi-chon-con-duong/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Tỉnh dậy đi thôi, các bạn xuất gia trẻ! &#8211; Chia sẻ của sư ông Thích Nhất Hạnh về những hiểu nhầm trong đạo Bụt từ bao đời nay</title>
		<link>https://shop.chaymoc.com/tinh-day-di-thoi-cac-ban-xuat-gia-tre/</link>
					<comments>https://shop.chaymoc.com/tinh-day-di-thoi-cac-ban-xuat-gia-tre/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[webmaster]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 29 Nov 2016 08:35:46 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Vào cửa Phật]]></category>
		<category><![CDATA[di tu]]></category>
		<category><![CDATA[làng mai]]></category>
		<category><![CDATA[Lời Phật dạy]]></category>
		<category><![CDATA[thich nhat hanh]]></category>
		<category><![CDATA[vượt qua đau khổ]]></category>
		<category><![CDATA[xuat gia]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chaymoc.com/?p=2204</guid>

					<description><![CDATA[<p>&#8220;Mình có phải là tri kỷ của Bụt không? hay chỉ là một người đi theo Bụt một cách mù quáng, nói cái gì thì nghe cái đó? Muốn là người tri kỷ của Bụt thì phải có...</p>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com/tinh-day-di-thoi-cac-ban-xuat-gia-tre/">Tỉnh dậy đi thôi, các bạn xuất gia trẻ! &#8211; Chia sẻ của sư ông Thích Nhất Hạnh về những hiểu nhầm trong đạo Bụt từ bao đời nay</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com">Shop Chay Mộc</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p class="tt-detail" style="text-align: justify;">&#8220;Mình có phải là tri kỷ của Bụt không? hay chỉ là một người đi theo Bụt một cách mù quáng, nói cái gì thì nghe cái đó? Muốn là người tri kỷ của Bụt thì phải có óc phán đoán, không phải là ai nói cái gì là mình nghe cái đó, dầu đó là lời của một vị tổ sư.&#8221; Những chia sẻ rất chân thành của sư ông. Những kinh nghiệm được rút ra sau mấy chục năm thực hành và tìm hiểu Phật Pháp. Hiếm có người nào dám chia sẻ thẳng thắn và tuệ giác như vậy. Người ta hay biến Bụt (Phật) thành một ông thần hào quang chói lóa, một vị nắm trong tay quyền năng siêu phàm. Để sinh ra đủ thứ lễ bái cầu khấn. Để trục lợi từ những con người vốn vô tri vô trí mà cuồng tín. Để rồi sinh bao trầm luân mê muội..Đã đến lúc, hỡi các bạn trẻ thông minh năng động. Các bạn cần tỉnh dậy trong đêm đen cuồng tín. Các bạn, chính các bạn sẽ là những người tiếp tục làm mới đạo Bụt trong tương lai.</p>
<div class="f-detail">
<div style="text-align: justify;">
<p><strong>Các con thân mến!</strong></p>
<p>Hồi Thầy mới vào chùa năm 16 tuổi, trên phương diện danh từ thì mình đã được gọi Bụt Sakyamuni là Bổn Sư (Nam Mô Đức Bổn Sư Bụt Sakyamuni). Bổn Sư (tiếng Bắc là Bản Sư) có nghĩa là Thầy tôi. Nhưng kỳ thực đức Bụt mà mình được gặp khi mới vô chùa không phải là một vị Thầy đích thực mà là một nhân vật rất huyền thoại, đầy phép lạ, đầy thần thông, rất xa cách với con người.</p>
<p>Mình không được gặp Bụt của đạo Bụt nguyên thủy mà cũng không được gặp Bụt của đạo Bụt tiểu thừa. Hình ảnh Bụt nguyên thủy là một vị Thầy ăn mặc rất đơn sơ, trải bồ đoàn tọa cụ ngồi trên đất, ngồi pháp đàm, nói pháp thoại và ăn cơm với các Thầy. Mình không gặp được hình ảnh đó, vì vậy trên phương diện danh từ mình được gọi là Thầy tôi nhưng kỳ thực giữa mình với đức Sakyamuni có một khoảng cách rất lớn. Đó là một nhân vật hoàn toàn thần thoại, đầy phép lạ.</p>
<p>Mãi cho đến mấy chục năm sau, Thầy mới tìm ra được hình ảnh của một vị Thầy đích thực, một vị Bổn Sư. Bổn Sư chỉ có nghĩa là &#8220;Thầy của tôi&#8221; thôi. Giống như nói là Bổn Tự thì có nghĩa là chùa tôi, bản tỉnh có nghĩa là tỉnh của tôi. Cho nên sau đó nhiều thập niên, khi khám phá ra được con người thật của Bụt rồi, Thầy mới nuôi giấc mộng là viết một cuốn sách để cho người ta thấy rằng Bụt không phải là một vị thần linh đầy phép lạ mà là một vị Thầy.</p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p><a href="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/lang-mai-thich-nhat-hanh-hanh-thien.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-5943 size-full" title="Tỉnh dậy đi thôi, các bạn xuất gia trẻ!" src="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/lang-mai-thich-nhat-hanh-hanh-thien.jpg" alt="Tỉnh dậy đi thôi, các bạn xuất gia trẻ!" width="800" height="445" srcset="https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/lang-mai-thich-nhat-hanh-hanh-thien.jpg 800w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/lang-mai-thich-nhat-hanh-hanh-thien-300x167.jpg 300w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/lang-mai-thich-nhat-hanh-hanh-thien-768x427.jpg 768w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/lang-mai-thich-nhat-hanh-hanh-thien-1x1.jpg 1w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/lang-mai-thich-nhat-hanh-hanh-thien-10x6.jpg 10w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/lang-mai-thich-nhat-hanh-hanh-thien-600x334.jpg 600w" sizes="auto, (max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></p>
<p>Do đó Thầy đã để hết tấm lòng của mình để viết cuốn Đường Xưa Mây Trắng, để lột ra khỏi Bụt những vòng hào quang, những vòng thần bí, để Bụt có thể hiện rõ như một con người, một vị Thầy mà mình có thể tiếp cận được. Cho nên Thầy nghĩ cuốn Đường Xưa Mây Trắng có công đức rất lớn. Nó giúp phục hồi được hình ảnh của một vị Thầy sống đơn giản, không sử dụng quyền phép mà chỉ sử dụng tuệ giác và từ bi để giải quyết tất cả mọi vấn đề.</p>
<p>Đức Bụt mà Thầy gặp năm 16 tuổi là đức Bụt của Mật tông. Hồi đó tại các chùa ở Việt Nam có hai thời công phu. Thời công phu sáng hoàn toàn là Mật tông, trì tụng những chú như Lăng nghiêm, Đại bi và mười bài chú khác. Còn buổi chiều thì đó là đạo Bụt A Di Đà. Trong đạo Bụt A Di Đà thì hình ảnh của Bụt Thích Ca bị lu mờ.</p>
<p>Đứng trước hình ảnh của Bụt Di Đà, Thầy không có cơ hội gặp được Thầy của mình trong giáo lý tịnh độ. Nhưng vì hồi đó mình ham tu quá, có một tấm lòng rất háo hức, sôi nổi, muốn tu tập để chuyển hóa. Thành thử tuy đó là một vị Bụt xa cách như vậy nhưng mà Thầy vẫn chấp nhận được. Hơn nữa bài kinh mở đầu thần chú Thủ Lăng nghiêm tụng mỗi buổi sáng mà chư Tổ đã chọn là một bài rất là cảm động.</p>
<p>Sư chú nào, sư cô nào mà đọc lên bài ấy đều rất cảm động. Đó là những lời phát nguyện của Thầy A Nan muốn thành Phật để độ chúng sanh. Những cảm động đó lôi cuốn Thầy đi, cho nên Thầy không thấy được những mâu thuẫn, những phương pháp giáo dục nhồi sọ nằm trong cách giáo dục của các Thầy ngày xưa.</p>
<p><strong>Có những câu kinh rất cảm động như:</strong></p>
<p><em>Nguyện kim đắc quả thành Bảo Vương<br />
Hoàn độ như thị hằng sa chúng<br />
Tương thử thâm tâm phụng trần sát<br />
Thị tắc danh vi báo Phật ân. </em></p>
<p>Những câu này có nghĩa: Bây giờ đây con mong mau chóng chứng quả để trở thành một vị Bụt, để có thể đi vào ngay trong cuộc đời, hóa độ chúng sanh nhiều như hằng sa. Con mong đem hết tất cả tấm lòng sâu xa của con để phụng sự tất cả các cõi. Tại vì con nghĩ như vậy mới tạm xứng đáng để báo đáp được công ơn của Bụt.</p>
<p>Đọc những câu đó, người tu trẻ thấy rất cảm động. Thầy A Nan hồi đó cũng là một người trẻ. Có những câu hồi đó Thầy chỉ biết tụng và nghe theo thôi, Thầy không thấy được những mâu thuẫn ở trong đó. Như trong bốn câu:</p>
<p><em>Phục thỉnh Thế Tôn vị chứng minh,<br />
Ngũ trược ác thế thệ tiên nhập.<br />
Như nhất chúng sanh vị thành Phật,<br />
Chung bất ư thử thủ nê hoàn.</em></p>
<p>Có nghĩa: Xin đức Thế Tôn chứng minh cho chúng con. Trong cuộc đời đầy khổ đau, ngũ dục, độc ác và bạo động này, con sẽ là một trong những người đầu tiên tình nguyện đi vào để cứu độ. Chừng nào còn có một chúng sanh chưa thành Phật thì chừng đó con chưa chịu chứng Niết Bàn. Câu chót này mãi đến mấy chục năm sau Thầy mới thấy sai.</p>
<p>Câu này có nghĩa là: chứng Niết Bàn chắc là khỏi phải làm gì nữa hết; vì vậy cho nên khoan chứng Niết Bàn, để làm việc cứu độ chúng sanh đã. Chứng Niết Bàn rồi thì rong chơi thôi. Đó là một quan niệm rất sai lầm về Niết Bàn. Theo nguyên tắc, khi đạt được tuệ giác sâu sắc thì mình tiếp xúc được với bản tính vô sinh &#8211; bất diệt, phi khứ &#8211; phi lai, phi hữu &#8211; phi vô và đó là thế giới của lắng dịu, an lạc và hạnh phúc.</p>
<p>Đó là Niết Bàn. Nếu mình không hưởng được những cái ấy thì sức mấy mà mình đủ sức mạnh để tiếp tục cứu độ chúng sanh. Cho nên nói rằng con chưa chịu chứng Niết Bàn đâu, con phải làm việc cho cực nhọc để độ sinh đã. Đó là một điều sai lầm mà Thầy không thấy được tại vì Thầy đang còn trẻ.</p>
<p>Điều này cũng do sự hiểu lầm phổ biến về Niết Bàn. Có quan niệm về hữu dư y Niết Bàn và vô dư y Niết Bàn. Vô dư y Niết Bàn là Niết Bàn trong đó không còn có những tàn dư như Năm uẩn. Nhưng nếu trong Niết Bàn mà không có Năm uẩn thì làm sao ta hưởng được cái vui, an lạc và lắng dịu của Niết Bàn?</p>
</div>
<div style="text-align: justify;">
<p>Hữu dư y Niết Bàn là đã chứng đạo, đã chứng Niết Bàn nhưng vẫn còn mang hình hài Năm uẩn. Còn mang hình hài Năm uẩn thì có khi còn nhức đầu, đau bụng, mỏi chân, mỏi tay, vì vậy đó chưa phải là vô dư y Niết Bàn. Đó là một quan niệm rất sai lầm. Quan niệm cho rằng hạnh phúc và khổ đau là hai cái hoàn toàn không cần tới nhau, có thể chỉ có hạnh phúc mà không cần khổ đau, và chỉ có thể có khổ đau mà không cần hạnh phúc. Đó là quan niệm lưỡng nguyên không đúng với tinh thần tương tức của đạo Bụt.</p>
<p>Trong đạo Bụt có sự phân biệt Năm uẩn và Năm thủ uẩn. Thực ra thì Năm uẩn là những gì rất mầu nhiệm, nhưng nếu mình đem tâm để nắm bắt Năm uẩn, cho Năm uẩn là một cái ta, hay là một vật sở hữu của ta thì Năm uẩn trở thành Năm thủ uẩn. &#8220;Thủ&#8221; tức là nắm bắt và đối tượng của nắm bắt. Niết Bàn không phải là nơi không có Năm uẩn mà là nơi không có Năm thủ uẩn. Năm uẩn hết sức mầu nhiệm, ví dụ như Năm uẩn của Bụt.</p>
<p>Sau đây là hình ảnh đức Sakyamuni của Mật tông mà người trẻ mới xuất gia được tiếp cận trong bài tụng mở đầu cho chú Lăng Nghiêm:</p>
<p>&#8220;Nhĩ thời Thế Tôn, tùng nhục kế trung, dõng bách bảo quang, quang trung dõng xuất thiên diệp bảo liên, hữu hóa Như Lai, tọa bảo hoa trung. Ðỉnh phóng thập đạo, bách bảo quang minh, nhất nhất quang minh, giai biến thị hiện thập Hằng Hà sa Kim cang mật tích, kình sơn trì xử, biến hư không giới. Ðại chúng ngưỡng quan, úy ái kiêm bão, cầu Phật ai hựu, nhất tâm thính Phật vô kiến đảnh tướng, phóng quang Như Lai tuyên thuyết thần chú.&#8221;</p>
<p>&#8220;Lúc bấy giờ từ nhục kế trên đỉnh đầu, đức Như Lai phóng ra một luồng ánh sáng. Trong luồng ánh sáng đó có trăm châu báu. Trong luồng ánh sáng ấy của đức Như Lai phóng ra xuất hiện một hoa sen ngàn cánh và ngồi trên hoa sen ngàn cánh là hóa thân của một vị Bụt, và trên đỉnh đầu của vị Bụt hóa thân này cũng phóng ra mười đạo hào quang và đạo hào quang nào cũng có đầy trăm thức quý báu.</p>
<p>Trong các đạo hào quang này hiện ra biết bao nhiêu là vị Kim Cương mật tích, số lượng nhiều như số cát sông Hằng. Vị nào cũng một tay nâng ngọn núi, một tay cầm một cái chày bằng kim cương và họ đang có mặt tràn đầy trong không gian. Đại chúng nhìn thấy như vậy, một mặt thì vừa sợ một mặt vừa thương, ai cũng nhìn đức Thế Tôn, khẩn cầu đức Thế Tôn xót thương, che chở và mọi người đợi lắng nghe đức Thế Tôn. Lúc đó đức Thế Tôn phóng ra một hào quang từ nơi đỉnh đầu và bắt đầu tuyên thuyết thần chú Thủ Lăng Nghiêm.&#8221;</p>
<p>Trong đạo Bụt nguyên thủy và cả trong đạo Bụt tiểu thừa làm gì mà có cảnh tượng như vậy, Bụt đâu phải là một vị thần linh đầy dẫy phép lạ, đầy dẫy hào quang, xa cách con người như vậy. Kim cương mật tích tức là những vị thần Dạ Xoa đi theo tu học với Phật và nguyện đem hết sức mình để bảo hộ Phật Pháp. Hình ảnh của một vị kim cương mật tích là hình ảnh của một người đang cầm một cái chày bằng kim cương gọi là kim cương xử và nếu ai động tới Phật Pháp thì chỉ cần một cái chày đó thôi cũng đủ tan thân nát thịt rồi.</p>
<p>Khi Bụt phóng hào quang thì đại chúng nhìn lên thấy các vị kim cương mật tích cầm chày kim cương có mặt đầy tràn trong không gian. Một mặt đại chúng rất khiếp sợ, một mặt rất thương kính và do đó tất cả đều lắng nghe Bụt để Bụt bắt đầu tuyên thuyết thần chú Thủ Lăng Nghiêm. Đây là Phật giáo của Mật tông. Tuy là ở Việt Nam các chùa được gọi là cửa Thiền nhưng thực ra phần lớn chỉ tu Mật tông và tịnh độ mà thôi. Buổi sáng tụng chú, buổi tối niệm A Di Đà.</p>
<p>Hình ảnh một vị Bụt ngồi phóng hào quang và làm xuất hiện vô số các vị kim cương mật tích đầy dẫy khắp hư không, tuyên thuyết một bài linh chú dài tới hai mươi phút, hình ảnh đó không thể nào là đối tượng của niềm tin cho giới trẻ và trí thức ngày nay. Cũng như hình ảnh của một vị thượng đế, một ông già râu dài đang ngồi trên trời và quyết định những gì xảy ra trên trần thế, hình ảnh ấy không còn là đối tượng của niềm tin cho giới trẻ thời nay. Ấy vậy mà buổi khuya nào mình cũng vẫn tụng đi tụng lại cái hình ảnh của một vị thần linh như thế. Thử hỏi một đạo Bụt như thế có còn thích hợp với thời đại của chúng ta nữa hay không?</p>
<p>Trong bài tựa lời phát nguyện của đức A Nan mở đầu cho thần chú Thủ Lăng Nghiêm, có câu ca tụng thần chú Thủ Lăng Nghiêm như sau:</p>
<p>Thủ Lăng Nghiêm Vương thế hy hữu<br />
Tiêu ngã ức kiếp điên đảo tưởng,<br />
Bất lịch tăng kỳ hoạch Pháp thân.</p>
<p>&#8220;Định Thủ Lăng Nghiêm này trên đời rất hiếm có. Nó có khả năng giúp con làm tiêu diệt những tri giác sai lầm, chổng ngược được tích lũy trong cả ngàn ức kiếp và con cũng không cần trải qua một thời gian quá dài mới đạt được pháp thân&#8221;.</p>
<p><a href="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/thích-nhất-hạnh-chaymoc.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-5667 size-full" title="Tỉnh thức trong từng bước chân" src="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/thích-nhất-hạnh-chaymoc.jpg" alt="Tỉnh thức trong từng bước chân" width="800" height="445" /></a></p>
<p>Điên đảo tưởng là những tri giác chổng ngược, như trắng mà nói là đen, khổ thì nói là vui, vô thường thì nói là thường, vô ngã thì nói là có ngã. Đó là những tri giác sai lầm gọi là những tri giác điên đảo. Danh từ &#8220;điên đảo&#8221; này cũng có ở trong Tâm Kinh: &#8220;Viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn&#8221;, là xa lìa những mộng tưởng điên đảo, tức là tiêu diệt được những tri giác chổng ngược đầu lại.</p>
<p>Tứ điên đảo là bốn cái thấy chổng ngược. &#8220;Điên đảo&#8221; trong tiếng Anh gọi là &#8220;upside down&#8221;. Bất tịnh mà mình cho là tịnh, khổ mình cho là vui, vô thường mình cho là thường, vô ngã mình cho là có ngã. Đó gọi là Tứ điên đảo. Và các Thầy ngày xưa đã dạy mình một cách rất nhồi sọ.</p>
<p>Trong Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm (thân, thọ, tâm và pháp). Quán thân trong thân, quán thọ trong thọ, quán tâm trong tâm, quán pháp trong pháp thì phải thấy thân là bất tịnh, thọ là khổ. Thân không thể nào là tịnh được, còn thọ chỉ có thể là khổ, tâm chỉ là vô thường và các pháp chỉ là vô ngã. Mình được học thuộc lòng một cách rất là nhồi sọ: Thân bất tịnh, Thọ thị khổ, Tâm vô thường, Pháp vô ngã. Đó là chân lý bất di bất dịch mình không thể nói ngược lại được.</p>
<p>Trong mười hai nhân duyên, thọ là khổ, nhưng nếu mà thọ chỉ là khổ thì làm sao có thể đưa tới ái? Phải có những cảm giác dễ chịu cho nên người ta mới sinh ra tham đắm, vướng mắc.</p>
<p>Ngay trong thời Bụt còn tại thế đã có danh từ Pháp thân rồi. Hôm đó Bụt đến thăm Thầy Vakkhali, Thầy đang hấp hối. Thầy được Bụt hỏi: Thầy còn tiếc nuối gì nữa không? Thầy Vakkhali nói: &#8220;Bạch đức Thế Tôn: con không còn tiếc nuối gì nữa cả. Con chỉ còn một tiếc nuối duy nhất là vì bệnh quá nên mỗi khi đức Thế Tôn thuyết pháp trên núi Thứu thì con không được lên để nhìn ngắm và chiêm ngưỡng đức Thế Tôn&#8221;.</p>
<p>Ai cũng biết ngày xưa Thầy có vướng mắc với Bụt, cho nên Bụt không cho làm thị giả nữa. Bụt nói: &#8220;Này, nhục thân của tôi đây, hình hài của tôi đây là vô thường, thế nào cũng có ngày tiêu hoại. Nếu Thầy có được pháp thân của tôi thì Thầy đâu còn thiếu thốn gì nữa mà tiếc nuối&#8221;.</p>
<p>Đó là câu nói chứng tỏ trong thời Bụt đã có danh từ Pháp thân. Pháp thân là cái hiểu của mình về giáo pháp, trong đó có Tứ đế, Bát chánh đạo, Thất giác chi… và những phương pháp tu tập có khả năng chuyển hóa những niềm đau, nổi khổ đem lại Hỷ, Lạc để nuôi dưỡng mình và những người khác, để cuối cùng mình có thể giải thoát cho mình khỏi hệ lụy, chuyển hóa phiền não, có khả năng độ đời.</p>
<p>Hồi đó chưa có danh từ Tăng thân. Phải đợi tới hai mươi mấy thế kỷ về sau, danh từ Tăng thân mới xuất hiện ở Làng Mai. Trong bộ ba: Phật thân, Pháp thân, Tăng thân thì Tăng thân vô cùng quan trọng. Nếu không có Tăng thân thì chí hướng của một người tu không bao giờ được thành tựu. Cho nên sau khi đức Sakyamuni thành đạo, việc đầu tiên mà Ngài nghĩ tới là đi tìm những người bạn tu để thành một Tăng thân sáu người. Bụt thấy rất rõ là nếu không có một Tăng thân thì sự nghiệp của Bụt không thành tựu được.</p>
<p>Những người tu trẻ của mình khi mới tu, tâm bồ đề rất hùng tráng, rất vững chãi. Chí nguyện của mình là muốn tu để trở thành một vị Thầy lớn, có khả năng giải thoát cho mình và độ đời, đem lại nhiều an lạc, giải thoát cho đoàn thể tu học của mình. Phải xây dựng Tăng thân xuất gia như thế nào để Tăng thân xuất gia ấy có khả năng tổ chức tu học và độ cho những đoàn thể tu học của người cư sĩ. Cho nên trong bài tụng mở đầu cho chú Lăng Nghiêm, lời phát nguyện của Thầy A Nan rất cảm động. Đó là giấc mơ lớn của Thầy A Nan mà cũng là của bất cứ ai muốn tu để trở thành một vị Thầy lớn.</p>
<p><a href="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/thien-su-Thich-Nhat-Hanh-chaymoc.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-6131 size-full" title="Thiền sư Thích Nhất Hạnh" src="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/thien-su-Thich-Nhat-Hanh-chaymoc.jpg" alt="Thiền sư Thích Nhất Hạnh" width="800" height="445" srcset="https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/thien-su-Thich-Nhat-Hanh-chaymoc.jpg 800w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/thien-su-Thich-Nhat-Hanh-chaymoc-300x167.jpg 300w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/thien-su-Thich-Nhat-Hanh-chaymoc-768x427.jpg 768w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/thien-su-Thich-Nhat-Hanh-chaymoc-1x1.jpg 1w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/thien-su-Thich-Nhat-Hanh-chaymoc-10x6.jpg 10w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/thien-su-Thich-Nhat-Hanh-chaymoc-600x334.jpg 600w" sizes="auto, (max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></p>
<p>Cũng như bài Phát Nguyện Văn (Sám Quy Mạng) của Thiền sư Di Sơn là một giấc mơ lớn của người tu. Đọc Sám Quy Mạng mình thấy rõ ràng là người tu có một giấc mơ rất lớn, muốn trở thành một vị đạo sư lớn để giúp đời trên mọi phương diện. Trong những năm đầu thì mình tự ru mình bởi những chí nguyện đó. Nhưng vì ở trong chùa, mình không có cơ hội để học hỏi những pháp môn có khả năng xử lý những cảm thọ và những cảm xúc khổ đau, không được học những phương pháp chế tác Hỷ và Lạc để tự nuôi dưỡng mình, sử dụng các phương pháp lắng nghe và ái ngữ để tái lập lại truyền thông với huynh đệ, do đó mình không có khả năng xây dựng được một tăng thân xuất gia. Mình không có một phương tiện thiết yếu để thực hiện được chí nguyện của một người tu.</p>
<p>Dầu mình có cơ hội đi học các trường Phật học, nhưng tại các trường Phật học, dầu là sơ cấp, trung cấp hay cao cấp thì các Thầy, các vị giáo thọ cũng không dạy mình những pháp môn căn bản, mà chỉ dạy giáo lý để mình học thuộc rồi dạy lại cho các thế hệ tương lai thôi. Cái học của mình là cái học từ chương như vậy. Mình phải thay đổi cách học.</p>
<p>Các vị Thầy, các vị giáo thọ phải dạy cho mình những phương pháp thở, đi, ngồi, điều phục những tâm hành: giận, buồn, ghét, ganh tị, xử lý được những niềm đau, nổi khổ, làm lắng dịu những cảm thọ, cảm xúc lớn. Khi mình biết làm những chuyện ấy rồi thì mình mới có thể giúp cho huynh đệ mình cũng làm được, và mình mới có thể dạy cho sinh viên của mình làm được những chuyện đó.</p>
<p>Khi mình biết sử dụng ái ngữ, lắng nghe, tái lập được truyền thông, đem lại sự hòa giải,  mình mới có thể xây dựng được một Tăng thân. Tăng thân là phương tiện căn bản để có thể thực hiện được chí nguyện và sự nghiệp của một đời tu. Mình không được học những cái ấy ở trường Phật học. Đó là chuyện rất là thiếu sót. Mà chính các Thầy dạy mình, các vị giáo thọ cũng không biết thì làm sao dạy?</p>
<p>Cho nên trong chúng, đôi khi chỉ có năm ba huynh đệ mà sống cũng không hòa hợp với nhau. Mỗi người có một giấc mơ riêng. Trong đời sống hằng ngày chỉ làm những việc như: cung cấp những nhu yếu tín ngưỡng, tín mộ, những tiện nghi tình cảm cũng như tinh thần cho giới bổn đạo mà thôi. Những người nào biết làm chuyện đó thì có cuộc sống dễ dãi hơn những người khác. Nhất là những Thầy có khả năng tán tụng và đi cúng thì sẽ có một cuộc đời thoải mái hơn các Thầy khác. Và cũng hay bị những người khác ganh tị.</p>
<p>Rồi cuối cùng đa số đều ước muốn được làm trụ trì một ngôi chùa, có đồng vào, đồng ra, có đủ bổn đạo để chăm sóc chùa của mình, và một vài vị đệ tử để tiếp nối công việc của mình và giúp mình trong công việc ứng phú, cúng đám. Cho nên giấc mơ chưa bao giờ thực hiện được, giấc mơ vẫn còn là giấc mơ.</p>
<p>Khuya nào cũng tụng bài tựa của Thầy A Nan, khuya nào cũng tụng bài Phát Nguyện Văn của Thiền sư Di Sơn, mà rút cuộc là giấc mơ chưa bao giờ được thực hiện. Điều này đã xảy ra cho trên chín mươi lăm phần trăm những người tu trẻ và rốt cuộc họ chỉ trở thành những ông thầy cúng. Rồi những chức vụ lỉnh kỉnh trong Giáo Hội, những danh xưng và địa vị càng ngày càng làm họ lún sâu.</p>
<p>Chỉ có một số vị, ít hơn một phần trăm, trở thành học giả. Học giả tuy rất quý, nhưng không làm được công việc đứng ra xây dựng tăng thân và hóa độ đồ chúng. Trong lịch sử Việt Nam cận đại, chúng ta có được một số vị cao tăng có khả năng dựng tăng và hóa độ đồ chúng, như Thiền sư Phước Huệ, chùa Thập tháp &#8211; Bình Định, Thiền sư Trí Thủ trụ trì chùa Ba la mật &#8211; Huế, Thiền sư Thiện Hòa giám đốc Phật học đường Nam Việt chùa Ấn Quang &#8211; đường Sư Vạn Hạnh, Sài Gòn, Thiền sư Thiện Hoa trụ trì chùa Phước Hậu &#8211; Trà ôn và Thiền sư Trí Tịnh của Phật học đường Liên Hải&#8230;</p>
<p>Đó là tình trạng của Phật giáo Việt Nam hiện tại. Xin các con thấy được điều đó mà tỉnh dậy. Mục đích của người tu không phải là đi tìm những tiện nghi vật chất và tình cảm mà để trở thành một vị Thầy lớn có khả năng dựng tăng, độ đời, thành tựu được sự nghiệp của một người tu và thực hiện được như tâm bồ đề hùng mạnh của mình lúc ban đầu.</p>
<p>Quan niệm về Pháp thân ban đầu của Phật giáo nguyên thủy chỉ là cái hiểu về giáo lý căn bản của Bụt và những phương pháp cụ thể để tu tập, xử lý niềm đau, chế tác hỷ lạc và giải thoát cho mình, cho mọi người. Pháp thân chỉ có nghĩa đó mà thôi và pháp thân có thể trường tồn nếu mình biết cách trao truyền lại cho các thế hệ tương lai.</p>
<p>Nhưng cho đến khi truyền thống Yogacara ra đời (khoảng thế kỷ thứ năm, thứ sáu) thì bắt đầu phát hiện ra quan niệm Thân tịnh Pháp thân Tỳ lô giá na Phật (Vairocana tathagatha). Pháp thân ở đây không còn là cái hiểu và phương pháp tu học nữa mà chính là vũ trụ (cosmic body), là Pháp giới thân. Bụt không còn là cái hiểu và cái hành, mà chính là vũ trụ. Nếu mình lắng nghe tiếng gió, tiếng chim, quan sát cây cối, chim chóc thì thấy rằng tất cả những hiện tượng ấy đều đang thuyết pháp.</p>
<p>Nếu mình biết lắng nghe thì mình sẽ nghe Tứ đế, Bát chánh đạo, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề phần, Bát thánh đạo phần. Bụt vẫn còn đó, chưa bao giờ tiêu diệt cả và Bụt vẫn tiếp tục thuyết pháp qua vũ trụ. Như vậy Bụt chính là vũ trụ, mà Bụt cũng là Thượng đế tạo ra vũ trụ.</p>
<p>Điều này đưa quan niệm pháp thân tới rất gần với quan niệm Thượng đế của các tôn giáo khác. Nó cũng có cái rất hay, vì đã tạo ra một nguồn cảm hứng thi ca rất lớn trong Phật giáo đại thừa. Trúc tím, hoa vàng, trăng trong, mây bạc đều là những biểu hiện cụ thể của pháp thân và tất cả những hiện tượng mầu nhiệm đó đều đang thuyết pháp cả. Đó là tính cách nên thơ rất lớn của Phật giáo đại thừa.</p>
<p>Tiếp theo là quan niệm về Báo thân. Trong Duy Biểu, người ta nghĩ rằng Bụt là người có công hạnh rất lớn. Không có lẽ báo thân của Ngài chỉ là một con người nhỏ bé, cao một trượng sáu như vậy thôi hay sao? Và vì vậy người ta tưởng tượng báo thân Bụt rất lớn, lớn đến hàng trăm trượng. Mà chỉ có người chứng đạo mới thấy được báo thân Bụt. Ba mươi hai tướng đẹp, tám mươi tướng tốt, rất mầu nhiệm, đó là Bụt ở trên trời. Và đó mới chính là Bụt. Còn cái con người nhỏ bé, một trượng sáu, ngồi kiết già trên tọa cụ ở trong rừng chẳng qua chỉ là một hóa thân của Bụt thôi, chưa phải là Bụt. Điều này cũng đã ảnh hưởng tới kinh Pháp Hoa.</p>
<p>Kinh Pháp Hoa nói: Bụt không phải chỉ là đức Sakyamuni đang ngồi thuyết pháp cho đại chúng ở núi Thứu, mà Bụt có hóa thân đầy giẫy khắp nơi trên thế giới, và nếu cần Ngài có thể gọi hàng triệu ngàn ức hóa thân của Ngài trên khắp thế giới trở về, cho nên con người nhỏ bé này không quan trọng gì mấy. Vì vậy người ta bị cuốn theo, bị chìm đắm ở trong quan niệm Pháp thân và Báo thân mà coi thường Bụt như là một con người.</p>
<p>Trong bài Trường ca Avril, Thầy cũng đã có một câu &#8220;bông hoa vẫn chưa ngưng lời hát ca&#8221;. Bông hoa trong rừng sâu cũng là Bụt của pháp thân, và bông hoa chưa bao giờ từng ngưng thuyết pháp, chưa bao giờ ngưng lời hát ca. Đó cũng là ảnh hưởng của ý niệm về pháp thân của Bụt.</p>
<p>Bụt là vũ trụ. Vũ trụ là thân, là pháp giới thân của mình, gọi là cosmic body. Điều này cũng đúng. Ví dụ tất cả các đám mây hay tất cả các đợt sóng đều có thân đại dương của mình. Mình không phải chỉ là một đám mây, mình không phải chỉ là một đợt sóng. Mà mình chính là đại dương. Điều này cũng là sự thật.</p>
<p>Cho nên khi người tu trẻ đi vào trong chùa thì không được gặp Bụt như một con người, mà chỉ được gặp Bụt như một Thanh tịnh pháp thân Tỳ lô giá na, hay một Viên mãn báo thân Lô xá na (Locana). Ngay trong bài cúng dường quá đường, tất cả đều bắt ấn cát tường và tụng &#8220;Cúng dường Thanh tịnh pháp thân Tỳ lô giá na Bụt, viên mãn báo thân Lô xá na Bụt &#8220;, rồi mới đến &#8220;thiên bách ức hóa thân Thích ca mâu ni Bụt&#8221;.</p>
<p>Thầy nhớ hồi đó ở chùa Ấn Quang có sinh viên các trường Đại học như cô Chi, cô Nhiên, cô Bích, cô Phượng và các anh Bá Dương, Huệ Dương, Chiểu, Khá, Cương…tới thăm Hòa Thượng Thanh Từ. Thầy Thanh Từ hồi đó còn trẻ lắm và vẫn chưa bắt đầu nghiên cứu Thiền. Thầy Nhất Hạnh có chép ra một số bài kệ Thiền của các vị Tổ Thiền tông Việt Nam đời Lý, đời Trần và tặng Thầy. Hòa Thượng Thanh Từ hồi đó còn là một vị Giáo thọ trẻ, rất thích những bài kệ này và từ đó mới bắt đầu nghiên cứu về Thiền.</p>
<p>Thầy ngồi đó nghe mấy thầy trò họ nói chuyện. Cô Phượng (tức là sư cô Chân Không) nói rằng: Bạch Thầy, Thầy dạy là Thân này là bất tịnh, ở trong đó có đàm, có dãi, có phân, có máu, có tanh, có hôi… mình không nên thương. Nhưng khi con quán chiếu, con cũng có thấy trong Thầy cũng có phân, có nước tiểu, có đàm có dãi… nhưng tại sao con vẫn thương? Tại sao vậy? Thầy cười mà Thầy không hề trả lời cho đám sinh viên này. Thành ra câu hỏi đó chứng tỏ rằng quán thân bất tịnh không có hiệu nghiệm. Tuy miệng thì cứ lặp đi lặp lại &#8220;thân bất tịnh, thân bất tịnh&#8221; hoài, vậy mà tâm vẫn thương như thường, vẫn bị vướng mắc như thường. Điều này cũng đúng với chuyện thọ thị khổ, như ăn ớt cay, cay quá nhưng vẫn cứ ăn.</p>
<p>Thầy nhớ hồi đó cô Phượng, cô Nhiên, cô Chi, cô Bích, cô Nga và nhiều người khác tới thăm Thầy Thanh Từ, thấy Thầy có một hộp bánh bích quy. Mấy chị em mới nói nhỏ với nhau: &#8220;Thầy không biết là trong bánh này có trứng, có bơ thành ra mình để cho Thầy ăn cái này là tội. Mình nên rủ nhau ăn hết đi thì Thầy khỏi ăn, khỏi tội&#8221;.Và rứa là mấy đứa cứ mở hộp ra ăn. Còn dư mấy chục cái thì đem về luôn, không cho Thầy ăn. Còn Thầy thì hồi ở Princeton, có lần đi lớp học thì mở cửa sổ rộng ra và đi xuống lầu. Trong khi Thầy vắng mặt thì có một con sóc nhảy từ cây phong đi vào phòng Thầy và tự động mở hộp bánh bích quy của Thầy và ăn gần hết. Thầy về tới thì không còn bao nhiêu bánh trong hộp nữa. Chắc nó cũng sợ Thầy ăn bánh bích quy tội nên đã ăn giúp Thầy.</p>
<p>Ban đầu thì giáo lý Bất tịnh để trừ khử quan niệm về Tịnh. Nhưng mình cứ cho Bất tịnh là một chân lý tuyệt đối mà không biết rằng đó chỉ là một phương pháp khử độc. Còn &#8220;Thọ là khổ&#8221; có nghĩa là cái cảm thọ hạnh phúc mà anh đang có không thực sự là hạnh phúc đâu, mà chỉ là đau khổ thôi. Những cái mà anh đang cảm nhận đó nó có thể có cái bề ngoài là vui, kỳ thực tất cả Thọ đều là khổ.</p>
<p>Thọ là khổ đã trở thành một giáo điều rất nặng. Trong khi đó, trong Tâm Lý Học Phật Giáo nói Thọ có ít nhất là ba loại: Khổ thọ, Lạc thọ và Xả thọ. Tại sao mình lại nhồi sọ mình như thế? Với lại mình không biết rõ rằng cái khổ và cái vui đều có liên hệ với nhau. Nếu không có cái này thì không có cái kia. Ví dụ như mình không biết lạnh là gì thì đến khi mình được mặc vào một cái áo len rất ấm thì mình đâu có thấy hạnh phúc?</p>
<p>Vì vậy không có cái khổ thì không có cái vui, không có khổ đau thì không có hạnh phúc, hai cái tương tức với nhau. Điều này rất rõ trong Phật giáo đại thừa sau này. Phật giáo đại thừa khám phá ra được những viên ngọc bị chôn vùi trong Phật giáo nguyên thủy, mà Phật giáo tiểu thừa không thấy được.</p>
<p>Cho nên cái học trong chùa lâu nay có tính cách nhồi sọ rất nhiều. Đạo Bụt là một truyền thống rất cởi mở, nói rằng trong khi học hỏi mình phải dùng trí tuệ của mình để phán xét chứ đừng học như một con vẹt, đừng bị kẹt vào những giáo điều, dầu là những giáo điều Bất tịnh, Khổ, Vô thường và Vô ngã.</p>
<p>Ngày xưa là một vị giáo thọ trẻ, nhờ có óc phán xét, phê phán cho nên Thầy thấy có những điều bất ổn ngay trong các kinh văn, chứ đừng nói gì đến trong các bộ Luận. Tính cách giáo điều, nhồi sọ khá nặng. Nhưng mình là người có lòng rất là hiếu kính đối với các thế hệ tổ tiên, đối với chư tổ, cho nên mình không dám nói. Nhưng trong lịch sử, thỉnh thoảng có những vị Thiền sư dám nói, như Thiền sư Lâm Tế chẳng hạn. Ngài nói: &#8220;Tụi bây là đồ ngu, tụi bây muốn ra khỏi Tam giới hả? Ra khỏi Tam giới thì tụi bây đi đâu?&#8221; Không có nghĩa là không có những người thông minh, không có những nhà cách mạng trên phương diện tư tưởng.</p>
<p>Cũng vì thái độ hiếu kính đó cho nên tuy Thầy thấy những điểm sai lầm trong Kinh và trong Luận nhưng Thầy tìm cách cắt nghĩa khác hơn để tìm cách cứu chữa cho các vị mà không dám động tới, không dám nói rằng các vị sai. Nhưng trong thập niên gần đây thì Thầy thấy rằng Thầy không còn sợ nữa. Mình cũng đã lớn tuổi rồi. Mình phải nói ra những cái mà mình thấy. Cho nên trong năm, sáu mùa an cư kiết đông vừa qua, Thầy đã thẳng thắn nói ra những điều Thầy thấy là sai lầm, ngay trong các kinh văn căn bản như là Tâm Kinh Bát Nhã.</p>
<p>Nhất là sau khi mình khám phá ra được những câu kinh quý như vàng, quý như ngọc ở trong kho tàng Phật Giáo nguyên thủy. Ví dụ trong Như Thị Ngữ (Itivuttaka) hay Vô Vấn Tự Thuyết (Udàna)và ngay chính trong Pháp cú Hán tạng có những câu như sau:</p>
<p>&#8220;Này các vị Tỳ Kheo, trên đời có cái có sanh, có diệt nhưng mà cũng có cái không sanh, không diệt. Trên đời có cái có và có cái không nhưng mà cũng có cái không có cũng không không. Trên đời có những cái tạo tác và được tạo tác, nhưng mà cũng có cái không tạo tác và những cái không cần được tạo tác. Trên đời có những cái gọi là hữu vi và vô vi nhưng mà vẫn có cái không hữu vi cũng không vô vi&#8221;.</p>
<p>Những câu kinh như thế rất quý. Ngoài ra còn có những câu kinh khác như câu trong kinh Ca Chiên Diên (Katyàyana), Bụt nói rất rõ: &#8220;Phần lớn người đời thường bị kẹt vào ý niệm có hoặc là ý niệm không&#8221;. Những câu kinh tuy rất ngắn nhưng chính nhờ những câu kinh căn bản đó mà mình có thể chữa lại những sai lầm trong toàn bộ kinh điển.</p>
<p>Mình có phải là tri kỷ của Bụt không? hay chỉ là một người đi theo Bụt một cách mù quáng, nói cái gì thì nghe cái đó? Muốn là người tri kỷ của Bụt thì phải có óc phán đoán, không phải là ai nói cái gì là mình nghe cái đó, dầu đó là lời của một vị tổ sư. Cho nên những cuốn sách như Tri Kỷ Của Bụt không hẳn là một cuốn giáo khoa Phật học. Có thể gọi là giáo khoa Phật học, nhưng đó là giáo khoa cao cấp. Tại vì đây không phải một cuốn sách có công dụng giải thích, cắt nghĩa, làm rõ ý, mà còn có tinh thần phê phán, chỉ ra những chỗ nào đúng, chỗ nào sai, chỗ nào liễu nghĩa và chỗ nào không liễu nghĩa. Vì vậy các con phải biết sử dụng như thế nào để có thể làm sống dậy tinh thần phê phán sáng suốt của đạo Bụt.</p>
<p>Ở trong kinh Kalàma có một lần nhóm người trẻ tới hỏi Bụt: Vị đạo sư nào đi ngang qua đây đều nói rằng giáo lý của họ là hay nhất, đúng nhất. Chúng con biết tin vào ai? Bụt dạy: các em đừng có vội tin một điều gì, dầu điều đó đã được chép trong kinh, hoặc do một vị đạo sư rất nổi tiếng nói ra. Những điều mình nghe, mình phải dùng Văn, Tư, Tu để mà xét lại cho kỹ, phải đem ra áp dụng. Nếu áp dụng mà thấy giải tỏa được những khó khăn, đau khổ, thấy rõ ràng đó là sự thật thì khi đó mình mới tin, chứ đừng vội tin vào bất cứ một cái gì mình mới nghe.</p>
<p>Rõ ràng là những kinh như vậy đã chứng tỏ đạo Bụt là một truyền thống rất cởi mở, rất thông minh, rất có tính phê phán. Nếu mình biến đạo Bụt trở thành một tôn giáo đầy giáo điều như các tôn giáo khác thì điều này rất là tội cho Bụt. Mình đã đánh mất phần tinh túy của Bụt và mình không còn là tri kỷ của Bụt nữa.</p>
</div>
<div style="text-align: right;"><em>Thầy Nhất Hạnh</em></div>
<div style="text-align: right;"><em>Nguồn: langmai.org</em></div>
</div>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com/tinh-day-di-thoi-cac-ban-xuat-gia-tre/">Tỉnh dậy đi thôi, các bạn xuất gia trẻ! &#8211; Chia sẻ của sư ông Thích Nhất Hạnh về những hiểu nhầm trong đạo Bụt từ bao đời nay</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com">Shop Chay Mộc</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://shop.chaymoc.com/tinh-day-di-thoi-cac-ban-xuat-gia-tre/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Bài 17 – Tu ở mọi nơi, mọi điều kiện, miễn là tâm ta hướng Phật</title>
		<link>https://shop.chaymoc.com/bai-17-tu-o-moi-noi-moi-dieu-kien/</link>
					<comments>https://shop.chaymoc.com/bai-17-tu-o-moi-noi-moi-dieu-kien/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[webmaster]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 03 Nov 2016 14:32:55 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Vào cửa Phật]]></category>
		<category><![CDATA[dao phat]]></category>
		<category><![CDATA[di tu]]></category>
		<category><![CDATA[duc phat]]></category>
		<category><![CDATA[đạo phật cơ bản]]></category>
		<category><![CDATA[hoc phat]]></category>
		<category><![CDATA[Lời Phật dạy]]></category>
		<category><![CDATA[tu]]></category>
		<category><![CDATA[tu phat]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chaymoc.com/?p=185</guid>

					<description><![CDATA[<p>Có nhiều người nghĩ rằng, tu là phần riêng của những kẻ rảnh rang nhàn hạ, những người thừa của thừa tiền, còn mình làm đầu tắt mặt tối, cơm không đủ no áo không đủ ấm, có thì...</p>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com/bai-17-tu-o-moi-noi-moi-dieu-kien/">Bài 17 – Tu ở mọi nơi, mọi điều kiện, miễn là tâm ta hướng Phật</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com">Shop Chay Mộc</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Có nhiều người nghĩ rằng, tu là phần riêng của những kẻ rảnh rang nhàn hạ, những người thừa của thừa tiền, còn mình làm đầu tắt mặt tối, cơm không đủ no áo không đủ ấm, có thì giờ đâu mà nói chuyện tu.</p>
<p style="text-align: justify;">Hoặc có những người nghĩ, tu là việc của những kẻ thiếu phước bần hàn, cô quả, tật nguyền, nhờ tu họ được an ủi bớt khổ, còn ta phước nhiều của lắm, thân quyến đầy đàn, đẹp đẽ sang trọng mà tu làm gì. Lại có người nghĩ, tu là việc của những kẻ tội lỗi ác độc, bởi họ tạo nhiều tội lỗi nên phải tu để chuộc tội, còn tôi hiền lành có làm gì hại ai đâu mà tu.</p>
<div class="td-a-rec td-a-rec-id-content_inlineright " style="text-align: justify;"> Bởi có những quan niệm này, nên người ta không màng không nghĩ đến tu. Họ đâu biết rằng, mọi chúng ta trong tâm niệm có cả xấu lẫn tốt, nếu thả nổi mặc tình niệm xấu hoành hành, là sống theo bản năng, mất hết tư cách của con người và sẽ gây tội lỗi ngập trời. Để hạn chế tâm niệm xấu, khiến nó tiêu mòn, khởi dậy tâm niệm tốt, khiến nó tăng trưởng, đây là việc làm của người tu. Có giảm tâm niệm xấu, tăng tâm niệm tốt, người này mới đủ tư cách con người và làm nhiều việc tốt đẹp với mọi người chung quanh. Thế là, có hoàn cảnh nào mà chẳng nên tu?</div>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/duc-phat-chaymoc-1.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-6645 size-full" src="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/duc-phat-chaymoc-1.jpg" alt="Bài 17 – Tu ở mọi nơi, mọi điều kiện, miễn là tâm ta hướng Phật" width="800" height="445" srcset="https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/duc-phat-chaymoc-1.jpg 800w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/duc-phat-chaymoc-1-300x167.jpg 300w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/duc-phat-chaymoc-1-768x427.jpg 768w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/duc-phat-chaymoc-1-1x1.jpg 1w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/duc-phat-chaymoc-1-10x6.jpg 10w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/duc-phat-chaymoc-1-600x334.jpg 600w" sizes="auto, (max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Có những người bận lo sinh kế gia đình, tửng bưng sáng đã có mặt ở chợ, đến sẩm tối mới về tới nhà, rồi lo ăn uống giặt giũ cho con cái là tối mò, có rảnh lúc nào đâu mà tu? Nếu bảo những người này phải tụng kinh, phải lần chuỗi niệm Phật, chắc hẳn không thể nào làm được. Nhưng tu ở đây là, bỏ ý nghĩ xấu, nuôi dưỡng ý nghĩ tốt, bỏ lời nói dữ, nói lời nói lành, dừng những hành động ác, tạo những hành động thiện, có mất thì giờ chút nào mà tu không được. Trái lại, chính khi buôn bán làm ăn ấy, chúng ta có ý nghĩ tốt, thốt lời nói lành, có hành động thiện, người khách hàng mến thương, khiến khách mua hàng càng lúc càng đông, việc làm ăn dễ phát đạt.</p>
<p style="text-align: justify;">Ví như cô bán hàng có khách đến mua, giá món hàng một ngàn đồng, cô nói một ngàn hai, chờ khách trả một ngàn là cô bán. Song trớ trêu, người khách không trả một ngàn, mà trả ba trăm. Nếu cô bán hàng không biết tu thì nổi giận quát tháo ầm ĩ, gây ra cuộc cãi vã ồn ào. Ngược lại, cô bán hàng biết tu, chỉ cần nói nhẹ nhàng “trả chưa tới giá, bán không được”. Mọi việc êm ái, không ai thiệt thòi gì. Trước những cảnh bất như ý, chúng ta biết kềm hãm sự nóng giận, biết lựa lời ôn hòa để đáp, biết giữ thái độ bình tĩnh, là khéo tu. Ở giữa chợ, mỗi ngày sự bất như ý diễn ra liên tục, nên tu hành là điều tối cần cho người sống trong hoàn cảnh này. Vì thế người xưa nói: “Nhất tu thị, nhị tu sơn.”</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu là người nông phu làm nghề ruộng khi vác cuốc ra đồng, chúng ta nghĩ “cần mẫn làm cho lúa trúng, để có cơm cho gia đình mình ăn, vơi ra giúp đồng bào mình cùng có cơm ăn”. Quan niệm ấy là ý nghĩ lành, đó là tu. Thấy thửa ruộng bên cạnh tốt hơn ruộng mình, không có tâm đố kỵ, mà lòng mừng thầm bạn mình được lúa trúng, gia đình ấm no…, mình gắng học hỏi theo cách làm ăn ấy, đây là tâm niệm của người biết tu. Lại, khi làm việc đắp bờ cuốc ruộng, trong tâm vừa nảy ra niệm xấu, ta liền diệt trừ, trong tâm nảy ra niệm tốt, ta liền khơi dậy cho nó tăng trưởng, ấy là tu, một cuốc là một câu niệm Phật, hoặc một cuốc tận kim cang địa ấy là tu.</p>
<p style="text-align: justify;">Là học trò bận việc học hành, công phu tu không hề chướng ngại. Khi cắp sách đi học, em nghĩ “ta cố gắng học cho giỏi, để mai kia giúp cha mẹ khi tuổi già, có tài để góp công mình xây dựng quê hương tốt đẹp hơn”, đó là em tu. Thầy giáo, cô giáo nhọc sức giảng dạy bài vở, em lắng nghe và cố học thuộc, vì thương sợ thầy cô buồn, đấy là em biết tu. Bạn bè trong lớp có những trò học giỏi hơn em, em không ganh tỵ, trái lại còn kính phục để bắt chước theo, ấy là tâm niệm người tu. Người tu là người biết phục thiện, mỗi khi có lỗi lầm bị rầy, bị phạt, biết lỗi sửa ngay, không oán hờn trách móc. Có những đứa học hành thua kém và thiếu phương tiện hơn em, em thương mến hướng dẫn và giúp đỡ nó, là em khéo tu. Xã hội ngày mai sáng sủa hơn, tốt đẹp hơn, chính nhờ những mầm non biết tu.</p>
<h2 style="text-align: justify;"> TU TRONG CẢNH NGHÈO KHÓ</h2>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta nghèo tiền nghèo của chớ đâu có nghèo ý nghĩ, lời nói, hành động. Chuyển hóa ý nghĩ xấu thành tốt, lời nói dữ thành hiền, hành động ác thành thiện là tu. Việc này đâu đòi có tiền có của, nhàn rỗi mới làm được. Chính trong cuộc sống vất vả nghèo nàn của chúng ta cần thiết phải có nó. Như có người nghèo khó vất vả mà lòng tốt, lời nói hiền hòa, hành động lương thiện, khiến mọi người thương mến giúp đỡ, nhờ đó mọi khó khăn giảm bớt đi.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngược lại, nếu ở trong cảnh khó khăn mà ý ngang ngạnh, lời nói hung dữ, hành động bạo ngược, khiến ai nghe thấy cũng ghét cũng lánh xa, nhờ điều gì họ cũng không giúp, thì khó khăn lại càng khó khăn hơn. Hơn nữa, tâm hồn trong sáng, lời nói hiền hòa, hành động thanh cao, dù chúng ta sống trong cảnh nghèo vẫn thấy êm đềm hạnh phúc. Chồng biết nhường vợ, vợ biết kính chồng, con hiếu thuận cha mẹ, cha mẹ thương yêu con cái, gọi là cuộc sống hạt muối cắn hai, thật là lý tưởng biết bao.</p>
<h2 style="text-align: justify;">TU TRONG CẢNH BỆNH HOẠN</h2>
<p style="text-align: justify;">Bình thường người ta cho khi bệnh hoạn là chướng ngại tu hành, đây cũng là quan niệm sai lầm về việc tu. Nếu thấy tụng kinh, tọa thiền mới là tu, khi bệnh hoạn tụng kinh không nổi, tọa thiền không được, đó là chướng ngại tu. Song tu cốt ngăn ngừa phiền não, chiến thắng vọng tưởng, dù có tụng kinh tọa thiền, không tụng kinh tọa thiền đều tu được. Nếu có người bệnh nặng không đi đứng được, nằm một chỗ, khi ấy nằm nhiếp tâm niệm Phật, niệm chí tử, chẳng buồn nghĩ đến ai, lo việc gì, chỉ một bề niệm Phật thôi. Đây là tu đại tinh tấn theo pháp môn Tịnh độ, đâu có chướng ngại gì.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/ai-cung-nen-tu-001-800x455.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-356 size-full" src="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/ai-cung-nen-tu-001-800x455.jpg" width="800" height="455" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Hoặc có người bệnh, không niệm Phật mà thích quán chiếu, liền quán thân này thấy nó là gốc khổ đau, là tướng vô thường, là hiện tượng nhớp nhúa, là không có chủ, nương thân bệnh quán chiếu tường tận như vậy, thấy được tướng thật của thân, đây là pháp trí tuệ sẽ gần với Niết-bàn, là tu thiền. Khổ nỗi, người Phật tử bình thường tinh tấn tu hành, gặp lúc bệnh hoạn lại thối chuyển, sanh phiền não với con cháu, đây là việc đáng tiếc.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi mạnh chúng ta tu, để khi yếu bệnh có đủ đạo lực tiếp tục, vì lúc này là lúc gần với tử thần, là phút chiến đấu cuối cùng, nếu ngang đây mà dừng, mà hướng đi chiều khác, thật là một việc hoài công vô ích. Bởi vậy nên, Phật tử chúng ta phải thấy khi bệnh là cơ hội tốt, dồn hết tâm lực vào sự tu, chuyên tâm không lơi niệm, được vậy là gần với Phật, gần Niết-bàn, mới mong thoát khỏi khổ luân hồi muôn kiếp.</p>
<h2 style="text-align: justify;">TU TRONG CẢNH TẠI GIA</h2>
<p style="text-align: justify;">Có một số Phật tử nghĩ rằng, ở tại gia phiền rộn khó tu, được xuất gia rảnh rang tu hành mới giải thoát. Quan niệm này cũng không đúng. Nếu thấy tại gia là nhiều việc, vào chùa chắc gì ít việc? Người xưa nói: “Ca-sa vị trước hiềm đa sự, trước dĩ ca-sa sự cánh đa.” (Ca-sa chưa mặc than nhiều việc, được mặc ca-sa việc lại nhiều.) Câu này thật là chua chát đối với người tu. Đây quả là sợ ông táo gặp ông lò, chạy ô mồ mắc ô mả. Chúng ta đâu không nghe quí thầy trụ trì thường than: “Trụ trì làm dâu trăm họ.” Thế là ít việc hay nhiều việc, phiền rộn hay rảnh rang. Yếu điểm tu hành là hiểu đạo, vững lòng tin.</p>
<p style="text-align: justify;">Đủ hai điểm này, ở tại gia hay xuất gia đều tu được. Nếu không đủ hai điểm này, dù ở chùa chưa chắc đã tu được. Chúng ta phải khéo linh động trong mọi hoàn cảnh, đừng đòi hỏi phải cảnh thế ấy tu mới được. Sự đòi hỏi đó là cái cớ để chúng ta không tu. Vì có những người không thể tạo được hoàn cảnh như ý. Có những Phật tử nam cũng như nữ, con cái đầy đàn đầy đống mà cứ nằng nặc đòi xuất gia, quăng đại cho người ở nhà làm sao thì làm. Nếu thỏa mãn nguyện vọng, vào chùa một lúc, gặp khi gia đình thiếu thốn, con cái nheo nhóc, nóng lòng rồi gởi ca-sa cho chùa trở về nhà. Đây là việc làm nông nổi.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/10392410_397005473791491_713306378963435351_n.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-3356 size-full" src="https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/10392410_397005473791491_713306378963435351_n.jpg" alt="Tu ở mọi nơi, mọi điều kiện" width="640" height="480" srcset="https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/10392410_397005473791491_713306378963435351_n.jpg 640w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/10392410_397005473791491_713306378963435351_n-300x225.jpg 300w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/10392410_397005473791491_713306378963435351_n-1x1.jpg 1w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/10392410_397005473791491_713306378963435351_n-10x8.jpg 10w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/10392410_397005473791491_713306378963435351_n-600x450.jpg 600w" sizes="auto, (max-width: 640px) 100vw, 640px" /></a></p>
<h2 style="text-align: justify;">CHỨNG MINH MỌI HOÀN CẢNH ĐỀU TU ĐƯỢC</h2>
<p style="text-align: justify;">Ngày xưa, đời Đường ở Trung Hoa có gia đình ông Bàng Long Uẩn, vẫn làm cư sĩ tại gia, mà tu đến được chỗ sanh tử tự tại. Trong giới học Phật từ trước đến nay vẫn ngưỡng mộ công đức tu hành của gia đình ông. Như trong bài sám tu Tịnh độ đã đọc buổi tối, có câu “in như thiền định họ Bàng thuở xưa…” Ông Bàng Long Uẩn trước theo Nho học, sau nghiên cứu Phật thấy thích thú, ông tìm đến tham vấn các thiền sư. Ban đầu, ông đến hỏi Thiền sư Hy Thiên (Thạch Đầu): “Người không cùng muôn pháp làm bạn là người gì?” Hy Thiên liền bụm miệng ông. Ngay đây ông được ngộ. Sau ông đến tham vấn Mã Tổ (Đạo Nhất), cũng đem câu ấy ra hỏi. Mã Tổ bảo: “Ông hớp một ngụm cạn hết sông Tây Giang, ta sẽ vì ông nói.” Ông càng tin sâu hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Gia đìng ông, hai ông bà và một con trai, một con gái. Ông cất nhà gần chân núi, mỗi ngày chẻ tre đan sáo, cô con gái gánh ra chợ bán. Sống đạm bạc qua ngày để tu hành. Một hôm, trong nhà cùng ngồi bàn việc đạo, ông nói: “Nan nan nan, thập tạ du ma thọ thượng thang.” (Khó khó khó, mười tạ dầu mè trên cây vuốt.) Bà đáp: “Dị dị dị, bách thảo thượng đầu Tổ sư ý.” (Dễ dễ dễ, trên đầu trăm cỏ ý Tổ sư.) Cô con gái tên Linh Chiếu đáp: “Dã bất dị, dã bất nan, cơ lai khiết phạn, khốn lai thùy.” (Cũng chẳng dễ, cũng chẳng khó, đói đến thì ăn mệt ngủ khò.)</p>
<p style="text-align: justify;">Với cái nhìn của ông, thấy sự tu hành thật khó khăn vô kể, giống như người trèo lên cây cao mà bị thoa dầu, trèo lên tuột xuống, không có chỗ để bám. Trái lại, bà thấy việc tu rất dễ, vì nhìn ở đâu cũng thấy ý Tổ sư tràn khắp. Cô Linh Chiếu dung hòa, không nói khó, không nói dễ, khó dễ là hai bên, vượt qua hai bên (nhị kiến) tâm sẽ thanh tịnh thản nhiên, khi ấy chỉ đói đến thì ăn, mệt đến thì ngủ. Câu nói của cô Linh Chiếu dễ bị người sau hiểu lầm, người ta nghĩ rằng tu thiền là đói ăn mệt ngủ, rồi sống theo bản năng, thật là tai họa, chủ yếu cô nói là, khi nào tâm ta không còn mắc kẹt hai bên, khó dễ, tốt xấu, hơn thua, hay dở…, mới đến chỗ đói ăn mệt ngủ.</p>
<p style="text-align: justify;">Lại, ông có làm bài kệ nói sự đoàn tụ của gia đình ông như sau:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Hữu nam bất thú</em><br />
<em>Hữu nữ bất giá</em><br />
<em>Đại gia đoàn biến đầu</em><br />
<em>Cộng thuyết vô sanh thoại.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Dịch:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Có con trai không cưới vợ</em><br />
<em>Có con gái không gả chồng</em><br />
<em>Cả nhà cùng sum họp</em><br />
<em>Đồng bàn lời vô sanh.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Về già, một hôm ông lên ngựa giữa ngồi chuẩn bị tịch, bảo Linh Chiếu: “Con ra sân xem đúng ngọ vô cho cha hay.” Cô Linh Chiếu ra xem trở vào thưa: “Gần đúng ngọ, mặt trời bị nguyệt thực, cha ra xem.” Ông ra sân xem, trở vào, thấy Linh Chiếu lên ngựa giữa ngồi kiết già tịch. Ông nói: “Con gái ta lanh lợi quá!” Lo mai táng Linh Chiếu xong, ông báo tin cho thân hữu hay sắp tịch. Hôm ấy bạn bè tụ hội, ông nằm gối đầu trên đầu gối Châu Mục Công, nhắm mắt thị tịch.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;">Tin này đến bà Long Uẩn, bà ra đồng cho con trai hay, người con trai đang đánh trâu cày ruộng, bà bảo: “Con ơi! Ông già vô tri và con bé ngu si đã bỏ mình đi rồi.” Người con trai thưa: “Vậy hở mẹ!” Liền đứng thẳng tịch. Bà nói: “Thằng ngu si này cũng đi nữa.” Bà lo mai táng con trai xong, lên núi tịch. Đây là hiện tượng sanh tử tự tại của gia đình ông Bàng Long Uẩn. Ông Long Uẩn đan sáo, cô Linh Chiếu bán sáo ngoài chợ, con trai ông cuốc cày ngoài ruộng, bà Long Uẩn ở nhà nấu cơm, đều tu hành đắc lực đến sanh tử tự tại. Tại sao chúng ta lại đổ tại hoàn cảnh này, hoàn cảnh nọ, tu không được?</p>
<p style="text-align: justify;">Đến đời Trần ở Việt Nam, vua Trần Thánh Tông và Tuệ Trung Thượng sĩ, một ông vua, một ông quan vẫn tu hành đắc lực. Chúng ta ôn lại câu chuyện sau đây. Nhân ngày làm tuần cho Hoàng thái hậu, vua Thánh Tông thỉnh các bậc tôn túc đến dự trai, trong đó có Tuệ Trung Thượng sĩ. Nhà vua yêu cầu các Ngài trình bài kệ ngắn để thấy chỗ kiến giải của các ngài, qua nhiều bài kệ, nhà vua không hài lòng bèn trao giấy bút cho Thượng sĩ. Thượng sĩ viết một mạch:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Kiến giải trình kiến giải</em><br />
<em>Tợ niết mục tác quái</em><br />
<em>Niết mục tác quái liễu</em><br />
<em>Minh minh thường tự tại.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Dịch:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Kiến giải trình kiến giải</em><br />
<em>Như dụi mắt thấy quái</em><br />
<em>Dụi mắt thấy quái rồi</em><br />
<em>Rõ ràng thường tự tại.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Nhà vua đọc xong, liền phê tiếp ở sau:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Minh minh thường tự tại</em><br />
<em>Diệc niết mục tác quái</em><br />
<em>Kiến quái bất kiến quái</em><br />
<em>Kỳ quái tất tự hoại.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Dịch:</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Rõ ràng thường tự tại</em><br />
<em>Cũng dụi mắt thấy quái</em><br />
<em>Thấy quái chẳng thấy quái</em><br />
<em>Quái ấy ắt tự hoại.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Kiến giải của chúng ta không thật, giống như dụi mắt trong hư không có những đốm hoa. Khi con mắt bình thường trở lại thì những đốm hoa không còn. Những đốm hoa mất đi, ấy là con mắt sáng. Tâm chúng ta bị kiến giải che mờ, một khi kiến giải lặng mất, lúc ấy mới là tâm chân thật sáng suốt. Vua Thánh Tông và Thượng sĩ chỗ thấy như nhau, khác nhau chỉ đối ngược ý trước sau mà thôi. Thượng sĩ nói con mắt dụi thấy hoa đốm, khi hết lòa con mắt trước đã sáng rỡ. Thánh Tông nói con mắt trước đã sáng rõ, do dụi nên thấy hoa đốm, chính khi thấy hoa đốm, biết là không thật thì hoa đốm tự mất, trở lại con mắt sáng như trước.</p>
<p style="text-align: justify;">Vua Thánh Tông đau nặng, Thượng sĩ biên thơ hỏi thăm. Vua trả lời bằng hai câu thơ:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Viêm viêm thử khí hạn thông thân</em><br />
<em>Vị tằng uyển ngã nương sanh khố.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Dịch:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Hừng hực hơi nóng toát mồ hôi</em><br />
<em>Chiếc khố mẹ sanh chưa từng ướt.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Thượng sĩ bệnh sơ sài, Ngài kê một giường gỗ nằm tại Dưỡng Chân Trang. Ngài nằm nghiêng bên phải theo phép cát tường, mắt nhắm lại, người hầu và thê thiếp khóc rống lên. Ngài mở mắt ngồi dậy, sai lấy nước rửa tay súc miệng, liền quở nhẹ rằng:</p>
<p style="text-align: justify;">“-Sống chết là lẽ thường, buồn thảm luyến tiếc chi, làm não chân tánh ta”.</p>
<p style="text-align: justify;">Nói xong, Ngài nằm xuống yên lặng mà tịch.</p>
<p style="text-align: justify;">Một ông vua khi sắp chết, thấy thân tứ đại tan rã đau đớn, song còn một cái chưa bao giờ tan rã, đây là “chiếc khố mẹ sanh”. Một ông quan sống trong cảnh thê thiếp tôi tớ đầy nhà, mà vẫn nhẹ nhàng thanh thản ra đi, trước mọi người khóc than luyến tiếc. Nếu vì bận rộn khó tu, ai bận rộn hơn một ông vua, nhất là ông vua vì dân vì nước trước cuộc xâm lăng của phương Bắc. Ai bị ràng buộc hơn một ông quan, có đủ thê thiếp tôi tớ đầy nhà. Những vị này tu được, chúng ta không còn lý do gì thối thác khó tu.</p>
<p style="text-align: justify;">Tóm lại, chúng ta là con người chưa có ai toàn hảo, cần phải biết tu để chận đứng những điều xấu dở xuất phát từ ba nghiệp của mình. Đồng thời chúng ta khéo nuôi dưỡng những hành động tốt đẹp từ thân miệng ý phát ra. Dừng ác nuôi thiện là điều không thể thiếu, nơi con người muốn vươn lên. Khước từ tu hành, là chúng ta khước từ sự tiến bộ, là khước từ mọi đẹp đẽ cao quí, khước từ sự an vui hạnh phúc. Nếu ai quyết chí vươn lên, muốn sống cuộc đời an lạc, muốn gia đình hạnh phúc, muốn xứ sở huy hoàng, tu là chủ yếu thực hiện những điều mong muốn ấy.</p>
<p style="text-align: right;"><em>Nguồn: budsas.org</em></p>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com/bai-17-tu-o-moi-noi-moi-dieu-kien/">Bài 17 – Tu ở mọi nơi, mọi điều kiện, miễn là tâm ta hướng Phật</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com">Shop Chay Mộc</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://shop.chaymoc.com/bai-17-tu-o-moi-noi-moi-dieu-kien/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Bài 16 – Bất cứ ai cũng có thể tu thành Phật, nếu thật sự thành tâm</title>
		<link>https://shop.chaymoc.com/bai-16-bat-cu-ai-cung/</link>
					<comments>https://shop.chaymoc.com/bai-16-bat-cu-ai-cung/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[webmaster]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 02 Nov 2016 15:44:25 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Vào cửa Phật]]></category>
		<category><![CDATA[dao phat]]></category>
		<category><![CDATA[di tu]]></category>
		<category><![CDATA[duc phat]]></category>
		<category><![CDATA[Lời Phật dạy]]></category>
		<category><![CDATA[phật]]></category>
		<category><![CDATA[tu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chaymoc.com/?p=182</guid>

					<description><![CDATA[<p>Thành Phật không khó? Có lắm người xuất gia cũng như tại gia cho rằng, chúng ta tu không thể nào giác ngộ thành Phật. Vì Đức Phật ra đời có những nhân duyên kỳ đặc, bản chất...</p>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com/bai-16-bat-cu-ai-cung/">Bài 16 – Bất cứ ai cũng có thể tu thành Phật, nếu thật sự thành tâm</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com">Shop Chay Mộc</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Thành Phật không khó? Có lắm người xuất gia cũng như tại gia cho rằng, chúng ta tu không thể nào giác ngộ thành Phật.</p>
<p style="text-align: justify;">Vì Đức Phật ra đời có những nhân duyên kỳ đặc, bản chất Ngài đã thánh sẵn rồi; còn chúng ta nào là ham mê dục lạc, nào là tội lỗi đầy đầu, nào là sanh nhằm thời mạt pháp căn cơ yếu kém ngu độn v.v… làm sao tu thành Phật được? Ở đây chúng ta hãy nhìn Thái tử là một con người, thật là người để lấy làm mẫu mực hướng theo tu hành.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi là một ông hoàng ở trong cung cấm, Thái tử bị mọi thứ dục lạc bủa vây: nào là vợ đẹp, hầu xinh, Ngài có cả thảy ba bà vợ, bà Cu-tỳ-gia (Gapica), bà Gia-du-đà-la (Yasodhara), bà Lộc giả (Urganica) và cung phi mỹ nữ. Nào là đàn ngọt hát hay, cả ngày âm thanh dằng dặc không dừng nghỉ. Nào là sự chiều chuộng của vua cha, xây cung điện thích hợp bốn mùa, tạo cảnh vui thích không để Ngài có một phút đăm chiêu. Đây là cảnh thiên đàng ngay trong trần thế, Ngài vui hưởng cảnh này đến năm mười chín tuổi.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/10/duc-phat-toa-thien-duoi-goc-bo-de.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-5315 size-full" src="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/10/duc-phat-toa-thien-duoi-goc-bo-de.jpg" alt="Bất cứ ai cũng có thể tu thành Phật" width="800" height="445" srcset="https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/10/duc-phat-toa-thien-duoi-goc-bo-de.jpg 800w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/10/duc-phat-toa-thien-duoi-goc-bo-de-300x167.jpg 300w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/10/duc-phat-toa-thien-duoi-goc-bo-de-768x427.jpg 768w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/10/duc-phat-toa-thien-duoi-goc-bo-de-1x1.jpg 1w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/10/duc-phat-toa-thien-duoi-goc-bo-de-10x6.jpg 10w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/10/duc-phat-toa-thien-duoi-goc-bo-de-600x334.jpg 600w" sizes="auto, (max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></p>
<h2 style="text-align: justify;">THÁI TỬ ĐI TU VÀ THÀNH PHẬT</h2>
<div class="td-a-rec td-a-rec-id-content_inlineright " style="text-align: justify;"> Chỉ một lần Thái tử trông thấy cảnh già, bệnh, chết của con người, Ngài khổ đau trằn trọc. Tại sao người ta phải chấp nhận lớp người này sanh ra, già, bệnh, chết, rồi lớp khác tiếp tục, cứ thế tiếp tục mãi không có ngày cùng? Ngài cương quyết đập tan cái tiền lệ ấy. Vì thế, bao đêm Ngài thức trắng, lòng Ngài băn khoăn đau xót giày vò, cốt tìm ra lối thoát để cứu mình, cứu chúng sanh.</div>
<p style="text-align: justify;">Từ đây, sắc đẹp hát hay, trở thành trơ trẽn tầm thường trước mắt Ngài. Thức ngon vị ngọt, trở thành nhạt nhẽo chán ngán, khi chúng để vào miệng Ngài. Ngài ê chề ngán ngẩm mọi thứ dục lạc tạm bợ trá hình. Ngài cương quyết rời hoàng cung xuất gia tầm đạo. Mặc dù con đường này giăng trải trước mắt Ngài muôn vàn nguy hiểm thập tử nhất sanh, Ngài chấp nhận phải dấn bước. Thế là Ngài xuất gia lúc mười chín tuổi.</p>
<p style="text-align: justify;">Bao nhiêu năm lang thang trong rừng sâu học đạo, con người vương giả của Ngài đã pha màu sương gió, đã từng trải mọi thứ đắng cay, song ý chí kiên cường quả cảm của Ngài không suy giảm. Học đạo không thỏa mãn, Ngài nguyện thực hành khổ hạnh tột cùng. Nhưng thân sắp hoại mà đạo chưa thấy, Ngài phải sống trung hòa và đến dưới cội bồ-đề ngồi tu bốn mươi chín ngày đêm liền ngộ đạo. Ngang đây, Ngài thành Phật hiệu là Thích-ca Mâu-ni. Đã qua rồi, con đường tầm đạo ngót mười một năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi Ngài thành Phật, Ngài nhìn hồ sen thấy có những hoa đã nở tròn đầy, có những hoa còn búp son trinh, có những hoa đang trụ hình trong nước, có những mầm sen còn vùi trong bùn nhơ. Song tất cả, khi được hớp sương phơi nắng, chúng đều có khả năng nở tròn khoe sắc, nhả hương tinh khiết. Ngài thấy con người cũng thế, khi sanh ra và lớn lên trong vòng mê dục, một phen tỉnh giác con người sẽ tiến lên bậc giác ngộ khó gì. Thế là, Ngài lấy hoa sen để biểu trưng cuộc sống và giáo lý của Ngài. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là hình ảnh cụ thể nhất.</p>
<h2 style="text-align: justify;">PHẬT NGỒI TRÊN ĐÀI SEN</h2>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta đọc lịch sử Phật, ai cũng biết Bồ-tát đến cội bồ-đề trải cỏ làm tòa ngồi, và thành đạo ngay dưới cội cây này. Hiện nay chúng ta thờ Phật đúng theo tài liệu lịch sử, phải để Ngài ngồi trên tòa cỏ. Tại sao ngày nay chùa nào thờ Phật cũng ngồi trên tòa sen? Đây là để biểu trưng con người của Ngài.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước kia là ông hoàng, Ngài cũng nhiễm ô ngũ dục, như mầm sen còn ở trong bùn. Khi Ngài vượt thành xuất gia là mầm sen ra khỏi bùn, mà còn ở trong nước. Lúc Ngài ngồi tu ở dưới cội bồ-đề và thành đạo là hoa sen ra khỏi nước nở tròn đầy hương thơm ngào ngạt. Hoa sen lại tượng trưng cho sự bình đẳng giữa mọi người. Đã là mầm sen thì mầm sen nào cũng có khả năng vươn lên khỏi bùn, khỏi nước và trổ hoa tươi thắm hương thơm ngạt ngào.</p>
<p style="text-align: justify;">Đã là con người thì con người nào cũng có khả năng thoát khỏi dục lạc ô nhiễm, thức tỉnh tu hành và đạt thành đạo quả. Phật quả không phải của riêng một người nào, mà của chung tất cả ai có ý chí thoát trần, có quyết tâm đạt đạo. Vì vậy, Phật quả gọi là Vô thượng giác, là giác ngộ không ai trên, song có người bằng; Phật cũng dùng hình ảnh hoa sen để nhắc nhở Phật tử, ở giữa chốn ô nhiễm mà khéo vượt ra bằng trí tuệ sáng ngời của mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Bài kệ nói :</p>
<p style="text-align: justify;">Như giữa đống rác nhớp.<br />
Quăng bỏ nơi bờ đầm<br />
Chỗ ấy hoa sen nở.<br />
Thơm sạch đẹp ý người.<br />
Cũng vậy, giữa quần sanh.<br />
Uế, nhiễm, mù, phàm tục<br />
Đệ tử bậc Chánh Giác.<br />
Sáng ngời với trí tuệ.</p>
<p style="text-align: justify;">(Pháp cú câu 58-59)</p>
<p style="text-align: justify;">Hoa sen mọc chỗ nhớp nhúa mà thơm tho tươi đẹp, sống trong đời nhiễm nhơ mù tối, người Phật tử chúng ta phải khéo dùng trí tuệ vượt ra để cứu mình, và cứu người. Cái quí của hoa sen là sanh từ chốn bùn lầy mà tinh khiết, cái cao cả của người tu là sống trong mọi dục lạc nhiễm ô mà vượt ra an toàn siêu thoát. Hoa hường, hoa lan thơm hơn hoa sen, mà không được nhắc tới, vì sanh ở chỗ đất sạch. Nếu Thái tử là người từ trên trời rơi xuống mà đắc đạo thì không có giá trị gì. Chính trong vòng kềm tỏa của dục trần, mà thoát được mới là bậc đại hùng.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/di-tu-khat-thuc-chaymoc.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-5384 size-full" src="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/di-tu-khat-thuc-chaymoc.jpg" alt="Bài 16 – Bất cứ ai cũng có thể tu thành Phật" width="800" height="445" srcset="https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/di-tu-khat-thuc-chaymoc.jpg 800w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/di-tu-khat-thuc-chaymoc-300x167.jpg 300w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/di-tu-khat-thuc-chaymoc-768x427.jpg 768w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/di-tu-khat-thuc-chaymoc-1x1.jpg 1w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/di-tu-khat-thuc-chaymoc-10x6.jpg 10w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/11/di-tu-khat-thuc-chaymoc-600x334.jpg 600w" sizes="auto, (max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></p>
<h2 style="text-align: justify;">CÁ NHẢY KHỎI LƯỚI</h2>
<p style="text-align: justify;">Đời Tống ở Trung Hoa có hai Thượng tọa Thâm và Minh. Hai vị có duyên sự cùng sang đò qua sông Hoài. Đang sang sông, thấy người bủa lưới đang kéo, có con cá to nhảy khỏi lưới ra ngoài. Thượng tọa Thâm vỗ tay khen: “Hay thay! Như Thiền sư.” Thượng tọa Minh không đồng ý bảo: “Phải ở ngoài lưới mới hay, đợi vào lưới rồi mới nhảy là muộn.” Thượng tọa Thâm nói: “Huynh Minh chưa hiểu.” Đi hơn dặm đường, Thượng tọa Minh bỗng nhận ra chỗ sai, liền sám hối.</p>
<p style="text-align: justify;">Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy thế nào? Con cá trong lưới nhảy là hay, con cá thong dong ngoài lưới là hay? Đạo lý nhà Phật dạy, trong cảnh bủa vây của phiền não mà thoát ra được mới thật là hay. Đây mới thi thố được sức mạnh phi thường của con người thoát tục. Nếu ở ngoài lưới nói gì nhảy, không nhảy làm sao biết được sức mạnh của mình. Hơn nữa, bản thân con người đầy đủ tam bành (tam độc), lục tặc (sáu giặc) lại sáu trần dụ dỗ cuốn lôi, nếu không phải là bậc siêu quần bạt tụy làm sao thắng trận giặc nội công ngoại kích này.</p>
<p style="text-align: justify;">Cùng là cá, bao nhiêu con khác bị lưới cuốn không thể giãy vùng, cuối cùng bị người đánh cá bắt bỏ vào giỏ, chỉ một con này nhảy vọt khỏi lưới, không đồng với người xuất trần thoát tục là gì? Nếu chúng ta sanh ra đã là Thánh thì còn nói gì tu. Chính vì chúng ta mang đầy đủ thói hư tật xấu trong mình, chứa đầy tham sân si trong lòng, cho nên gặp cảnh thì nhiễm, trái ý thì sân, quẳng chúng thoát ra, thật là điều khó khăn trăm phần, ai làm được điều đó, đáng cho chúng ta chấp tay tán thán. Vì thế, Tuệ Trung Thượng Sĩ đã làm bài kệ:</p>
<p style="text-align: justify;">XUẤT TRẦN</p>
<p style="text-align: justify;">Tằng vi vật dục dịch lao khu<br />
Bài lạc trần hiêu thế ngoại du<br />
Tán thủ na biên siêu Phật Tổ<br />
Nhất hồi đẩu tẩu nhất hồi hưu.</p>
<p style="text-align: justify;">Dịch:</p>
<p style="text-align: justify;">RA KHỎI BỤI HỒNG</p>
<p style="text-align: justify;">Đã từng ham muốn phải long đong<br />
Ném quách mà ra khỏi bụi hồng<br />
Buông thõng bờ kia lên Phật Tổ<br />
Một lần phủi giũ một lần xong.</p>
<p style="text-align: justify;">Bởi vì chúng ta chạy theo vật dục nhân gian nên phải khổ sở gian nan. Nếu can đảm ném phắt hết, vượt ra ngoài vòng trần lụy, quả là can đảm phi thường. Có thể, mới buông thõng tay bước lên ngôi nhà Phật Tổ được. Song phải mạnh dạn dứt khoát, một lần bỏ đi không thèm ngó lại. Chớ đừng học thói nhầy nhụa, dùng dùng thẳng thẳng cắt không đứt, bứt không rời, một chân bước tới hai chân bước lui, không làm nên trò trống gì, chỉ chuốc trò cười cho hàng thức giả. Bởi vậy nên nhà thiền thường dùng câu “giết người không ngó lại” là ý này. Phải can đảm dứt khoát thì việc khó mấy cũng thành công.</p>
<h2 style="text-align: justify;">TRẦN NHÂN TÔNG: ÔNG VUA, TU SĨ</h2>
<p style="text-align: justify;">Vua Trần Nhân Tông sanh năm 1258, lên ngôi vua năm hai mươi tuổi, xuất gia năm bốn mươi mốt tuổi và năm mươi mốt tuổi tịch (1308). Suốt hai mươi năm, Ngài là bậc nhân chủ lãnh đạo quốc gia giữ nước chăn dân, ngồi trên ngai vàng sống trong cung ngọc, mọi thứ dục lạc đều dư thừa. Hai phen cầm quân chống giặc xâm lăng, nhân mạng hy sinh rất lớn. Bổn phận giữ nước chăn dân, Ngài làm đầy đủ. Năm bốn mươi mốt tuổi, Ngài nhường ngôi cho con, đi xuất gia. Lúc nhỏ Ngài đã được vua cha và thầy là Tuệ Trung Thượng sĩ chỉ dạy đạo lý thiền nhuần thấm sâu xa, nên khi xuất gia Ngài không cần tầm học, chỉ thực hiện điều đã học được.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong mười năm, là kẻ xuất gia Ngài mang hiệu Trúc Lâm Đầu-đà, tích cực hoạt động truyền bá chánh pháp. Trong giới xuất gia, Ngài giáo dục chúng Tăng, có khả năng đảm đang giáo hội. Trong dân chúng, Ngài đem pháp Thập thiện giáo hóa toàn dân, khiến Phật pháp mở rộng trong nhân gian. Công tác hoằng truyền Phật pháp, giáo hóa nhân dân, Ngài làm suốt đời không dừng nghỉ.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi sắp tịch, Ngài nằm tại Ngọa Vân am sai người gọi Bảo Sát đến. Ngày một tháng mười một, đúng nửa đêm, sao sáng đầy trời, Ngài hỏi: Bây giờ là giờ gì? Bảo Sát thưa: Giờ Tý. Ngài đưa tay ra hiệu mở cửa sổ để nhìn ra ngoài, nói: Đến giờ ta đi vậy. Bảo Sát hỏi: Tôn đức đi đâu bây giờ? Ngài đọc lại bài kệ:</p>
<p style="text-align: justify;">Nhất thiết pháp bất sanh<br />
Nhất thiết pháp bất diệt<br />
Nhược năng như thị giải<br />
Chư Phật thường hiện tiền<br />
Hà khứ lai chi hữu?</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;">Dịch:</p>
<p style="text-align: justify;">Tất cả pháp chẳng sanh<br />
Tất cả pháp chẳng diệt<br />
Nếu hiểu được như thế<br />
Chư Phật thường hiện tiền<br />
Nào có đi có lại?</p>
<p style="text-align: justify;">Bảo Sát hỏi thêm: Khi chẳng sanh chẳng diệt thì sao? Ngài khua tay nói: Thôi đừng nói mê nữa. Rồi Ngài ngồi theo kiểu sư tử tọa mà tịch… (Tam Tổ thực lục).</p>
<p style="text-align: justify;">Qua ba giai đoạn trên, chúng ta thấy Ngài sống giai đoạn nào ra giai đoạn ấy. Lúc làm vua thì quên mình giữ nước, hết dạ chăn dân. Khi đi tu, nhiệt tâm vì đạo mài miệt tu hành, chẳng ngại nhọc nhằn hết tình với tăng tục. Vì thế, trên đường đời Ngài thành công viên mãn, trên đường đạo thì đạo quả viên thành. Chính thái độ dứt khoát tích cực, nên lãnh vực nào Ngài cũng thành công. Ngài cũng hưởng dục lạc trong hoàng cung, cũng cầm binh khiển tướng ngoài trận mạc, nếu nói là tội lỗi thì cũng tràn trề. Song khi dứt khoát tiến tu thì cắt đứt mọi quá khứ, sống kham khổ tu hành, nên lấy hiệu đầu-đà (khổ hạnh). Với ý chí cương quyết đó, chỉ trong vòng mười năm, Ngài đã tiến đến chỗ sanh tử tự tại. Đây là tấm gương sáng rỡ để nhắc nhở chúng ta, không sợ mình trước mê lầm tội lỗi, chỉ sợ xuất gia rồi mà thái độ vẫn mập mờ. Ngài là con người thấy được đạo lý và sống được đạo lý. Chúng ta đọc bài kệ kết thúc bài phú Cư Trần Lạc Đạo của Ngài thì rõ:</p>
<p style="text-align: justify;">Cư trần lạc đạo thả tùy duyên<br />
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên<br />
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích<br />
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.</p>
<p style="text-align: justify;">Dịch:</p>
<p style="text-align: justify;">Trong đời vui đạo hãy tùy duyên<br />
Đói đến thì ăn mệt nghỉ liền<br />
Nhà mình báu sẵn thôi tìm kiếm<br />
Đối cảnh không tâm, chớ hỏi thiền.</p>
<p style="text-align: justify;">Sống ngay trong lòng trần tục mà khéo biết đạo vẫn thấy an vui. Duyên cảnh đổi thay tùy thời linh động, như khi đói thì ăn, khi mệt thì nghỉ, đừng cố chấp cứng nhắc mà tự khổ đau. Phật đã sẵn nơi ta, khỏi phải nhọc nhằn sang đông tìm tây. Cái khôn ngoan khéo léo của chúng ta là “đối cảnh tâm không động”, chính nơi đây là thiền rồi, còn thưa hỏi đâu nữa. Người học đạo nhận thấy Phật đã sẵn nơi tâm mình, song muốn Phật hiện thì tâm đừng chạy theo cảnh. Đây là lối tu thật giản đơn, thật cụ thể, mà người đời khó tin khó nhận. Người ta chỉ tin Phật ở Tây phương, phải siêng năng lễ bái thì được phước, được Phật rước về cõi Phật. Bởi vậy Tổ Lâm Tế nói: “Người ngu cười ta, kẻ trí biết ta.” Cười, vì thấy không tụng kinh lễ bái, chẳng biết tu cái gì? Biết, vì thấy lối tu tế nhị cụ thể thiết thực, không còn gì nghi ngờ. Một ông vua, xuất gia chỉ có mười năm mà đạt đạo như vậy, thật đáng quí kính biết dường nào. Cho nên triều đình tôn xưng Ngài là Điều Ngự Giác Hoàng.</p>
<h2 style="text-align: justify;">THÁI TỬ TẤT-ĐẠT-ĐA VÀ TRẦN NHÂN TÔNG</h2>
<p style="text-align: justify;">Thái tử là ông hoàng chưa từng đối đầu với mọi việc khó khăn ở đời, chỉ thấy cảnh già, bệnh, chết là phát tâm đi tu. Mục đích Ngài đi tu để tìm phương pháp phá vỡ cái luật khắc nghiệt của kiếp con người mà muôn thuở đã chấp nhận. Ngài phải trả cái giá rất đắt là, mười một năm nằm gió phơi sương lang thang trong rừng núi, ăn uống sơ sài cho đến kiệt sức. Đến khi giác ngộ viên mãn phương pháp giải thoát sanh tử tuyên bố thành Phật. Đây là người khai mở con đường đạo giác ngộ giải thoát. Tức là Ngài đã phá vỡ luật khắc nghiệt (già bệnh chết) chi phối mình và đem ra chỉ dạy mọi người. Việc làm của Ngài là muôn thuở không hai.</p>
<p style="text-align: justify;">Vua Trần Nhân Tông là người kế thừa con đường của Phật đã vạch sẵn. Bởi kế thừa nên công phu đơn giản và nhẹ nhàng, chỉ cần đem đuốc mình mồi vào đuốc Phật là cháy sáng. Do đó đi tu Ngài không khổ công tầm đạo, chỉ cần ứng dụng đạo đã sẵn vào việc tu hành là thành công. Tuy vậy cũng không phải là việc dễ dàng, mặc dù có công thức chỉ rõ, muốn ứng dụng công thức ấy phải gan góc cùng mình, phải mạnh tay chặt đứt mọi xiềng vàng xích ngọc, phải hùng dũng nhảy vọt khỏi mấy lớp rào tình cảm bịt bùng.</p>
<p style="text-align: justify;">Hai Ngài đều chôn mình trong cung vàng điện ngọc, bị bao vây bởi đám cung nữ phi tần, bị phủ kín trong tiếng đàn ngọt hát hay, bị siết chặt bởi mùi thơm vị quí. Song cả hai đều quả cảm thoát ra không chút đoái hoài luyến tiếc. Do đó hai Ngài làm được việc khó làm, để lại cho đời tấm gương phi phàm xuất chúng. Hai Ngài là hai mầm sen chôn sâu trong vũng bùn ngũ dục, vươn lên khỏi nước nở tròn tươi thắm và tỏa ra mùi hương tinh anh thanh khiết bủa khắp cả trần gian.</p>
<p style="text-align: justify;">Qua những hình ảnh trên, chúng ta có đủ kinh nghiệm trong việc tiến tu, không còn e dè nghi ngại gì nữa. Bởi vì không có vị nào đã là thánh rồi thành thánh, mà tất cả đều bị bao vây bởi phiền não dục trần. Cái đặc điểm của các ngài là nhạy cảm sớm thức tỉnh và anh dũng khi cần thoát nó. Điều đó chúng ta có thể học được, có ai thấy cảnh già bệnh chết mà chẳng buồn, có ai không khí khái khi thốt ra những lời thề bán mạng.</p>
<p style="text-align: justify;">Chỉ cần chúng ta triệt để ứng dụng cái nhạy cảm của mình để phát chí tu hành, khéo xoay chuyển cái khí khái của mình vào con đường quyết tử cầu đạo. Dám hạ quyết tâm trên đường hành đạo, chúng ta sẽ thu gặt được kết quả chắc chắn không nghi. Chúng ta là những mầm sen phơi mình trên bùn ngũ dục, thoát khỏi nó để vươn lên có khó gì? Chúng ta đâu có cung vàng điện ngọc, đâu có cung phi mỹ nữ… mọi dục lạc tìm cầu rất khó, nếu thoát nó thì hết sức nhẹ nhàng, chỉ cần một cái nhảy nhẹ đã ra khỏi rồi, thế mà chúng ta cứ chần chừ không ưng nhảy. Đây là yếu điểm muôn kiếp chịu trầm luân của chúng ta.</p>
<p style="text-align: right;"><em>Nguồn: budsas.org</em></p>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com/bai-16-bat-cu-ai-cung/">Bài 16 – Bất cứ ai cũng có thể tu thành Phật, nếu thật sự thành tâm</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com">Shop Chay Mộc</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://shop.chaymoc.com/bai-16-bat-cu-ai-cung/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
