<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Lưu trữ Niết bàn - Shop Chay Mộc</title>
	<atom:link href="https://shop.chaymoc.com/tag/niet-ban/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link></link>
	<description>Một trang web mới sử dụng WordPress</description>
	<lastBuildDate>Tue, 03 Oct 2017 02:55:52 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.5.5</generator>
	<item>
		<title>TU TRONG MỌI HOÀN CẢNH &#8211; HT Thích Thanh Từ</title>
		<link>https://shop.chaymoc.com/tu-trong-moi-hoan-canh/</link>
					<comments>https://shop.chaymoc.com/tu-trong-moi-hoan-canh/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[webmaster]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 03 Oct 2017 02:55:52 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Đường đạo]]></category>
		<category><![CDATA[cuộc đời an lạc]]></category>
		<category><![CDATA[Niết bàn]]></category>
		<category><![CDATA[phat tu]]></category>
		<category><![CDATA[tu tập]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chaymoc.com/?p=12006</guid>

					<description><![CDATA[<p>Có nhiều người nghĩ rằng, tu là phần riêng của những kẻ rảnh rang nhàn hạ, những người thừa của thừa tiền, còn mình làm đầu tắt mặt tối, cơm không đủ no áo không đủ ấm, có thì giờ đâu mà nói chuyện tu.</p>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com/tu-trong-moi-hoan-canh/">TU TRONG MỌI HOÀN CẢNH &#8211; HT Thích Thanh Từ</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com">Shop Chay Mộc</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Có nhiều người nghĩ rằng, tu là phần riêng của những kẻ rảnh rang nhàn hạ, những người thừa của thừa tiền, còn mình làm đầu tắt mặt tối, cơm không đủ no áo không đủ ấm, có thì giờ đâu mà<a href="http://chaymoc.com/trai-nghiem-de-truong-thanh/"> nói chuyện tu</a>. Hoặc có những người nghĩ, tu là việc của những kẻ thiếu phước bần hàn, cô quả, tật nguyền, nhờ tu họ được an ủi bớt khổ, còn ta phước nhiều của lắm, thân quyến đầy đàn, đẹp đẽ sang trọng mà tu làm gì. Lại có người nghĩ, tu là việc của những kẻ tội lỗi ác độc, bởi họ tạo nhiều tội lỗi nên phải tu để chuộc tội, còn tôi hiền lành có làm gì hại ai đâu mà tu. Bởi có những quan niệm này, nên người ta không màng không nghĩ đến tu. Họ đâu biết rằng, mọi chúng ta trong tâm niệm có cả xấu lẫn tốt, nếu thả nổi mặc tình niệm xấu hoành hành, là sống theo bản năng, mất hết tư cách của con người và sẽ gây tội lỗi ngập trời. Ðể hạn chế tâm niệm xấu, khiến nó tiêu mòn, khởi dậy tâm niệm tốt, khiến nó tăng trưởng, đây là việc làm của người tu. Có giảm tâm niệm xấu, tăng tâm niệm tốt, người này mới đủ tư cách con người và làm nhiều việc tốt đẹp với mọi người chung quanh. Thế là, có hoàn cảnh nào mà chẳng nên tu?</p>
<p><a href="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/10/tu-trong-moi-hoan-canh.jpg"><img fetchpriority="high" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-12007" src="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/10/tu-trong-moi-hoan-canh.jpg" alt="Tu trong hoàn cảnh" width="800" height="445" srcset="https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/10/tu-trong-moi-hoan-canh.jpg 800w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/10/tu-trong-moi-hoan-canh-300x167.jpg 300w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/10/tu-trong-moi-hoan-canh-768x427.jpg 768w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/10/tu-trong-moi-hoan-canh-1x1.jpg 1w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/10/tu-trong-moi-hoan-canh-10x6.jpg 10w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/10/tu-trong-moi-hoan-canh-600x334.jpg 600w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></p>
<p>Có những người bận lo sinh kế gia đình, tửng bưng sáng đã có mặt ở chợ, đến sẩm tối mới về tới nhà, rồi lo ăn uống giặt giũ cho con cái là tối mò, có rảnh lúc nào đâu mà tu? Nếu bảo những người này phải tụng kinh, phải lần chuỗi niệm Phật, chắc hẳn không thế nào làm được. Nhưng tu ở đây là, bỏ ý nghĩ xấu, nuôi dưỡng ý nghĩ tốt, bỏ lời nói dữ, nói lời nói lành, dừng những hành động ác, tạo những hành động thiện, có mất thì giờ chút nào mà tu không được. Trái lại, chính khi buôn bán làm ăn ấy, chúng ta có ý nghĩ tốt, thốt lời nói lành, có hành động thiện, người khách hàng mến thương, khiến khách mua hàng càng lúc càng đông, việc làm ăn dễ phát đạt.</p>
<p>Ví như cô bán hàng có khách đến mua, giá món hàng một ngàn đồng, cô nói một ngàn hai, chờ khách trả một ngàn là cô bán. Song trớ trêu, người khách không trả một ngàn, mà trả ba trăm. Trường hợp này, nếu cô bán hàng không biết tu thì nổi giận quát tháo ầm ĩ, gây ra cuộc cãi vã ồn ào. <a href="http://chaymoc.com/qua-trung-thu-mon-qua-dac-biet/">Ngược lại, </a>cô bán hàng biết tu, chỉ cần cười, nói nhẹ nhàng “trả chưa tới giá, bán không được”. Mọi việc êm ái, không ai thiệt thòi gì, mai kia người khách ấy còn có thể đến gian hàng này mua hàng. Trước những cảnh bất như ý, chúng ta biết kềm hãm sự nóng giận, biết lựa lời ôn hòa để đáp, biết giữ thái độ bình tĩnh, là khéo tu. Ở giữa chợ, mỗi ngày sự bất như ý diễn ra liên tục, nên tu hành là điều tối cần cho người sống trong hoàn cảnh này. Vì thế người xưa nói: “Nhất tu thị, nhị tu sơn.”</p>
<p>Nếu là người nông phu làm nghề ruộng khi vác cuốc ra đồng, chúng ta nghĩ “cần mẫn làm cho lúa trúng, để có cơm cho gia đình mình ăn, vơi ra giúp đồng bào mình cùng có cơm ăn”. Quan niệm ấy là ý nghĩ lành, đó là tu. Thấy thửa ruộng bên cạnh tốt hơn ruộng mình, không có tâm đố kỵ, mà lòng mừng thầm bạn mình được lúa trúng, gia đình ấm no…, mình gắng học hỏi theo cách làm ăn ấy, đây là tâm niệm của người biết tu. Lại, khi làm việc đắp bờ cuốc ruộng, trong tâm vừa nảy ra niệm xấu, ta liền diệt trừ, trong tâm nảy ra niệm tốt, ta liền khơi dậy cho nó tăng trưởng, ấy là tu, một cuốc là một câu niệm Phật, hoặc một cuốc tận kim cang địa ấy là tu.</p>
<p>Là học trò bận việc học hành, công phu tu không hề chướng ngại. Khi cắp sách đi học, em nghĩ “ta cố gắng học cho giỏi, để mai kia giúp cha mẹ khi tuổi già, có tài để góp công mình xây dựng quê hương tốt đẹp hơn”, đó là em tu. Thầy giáo, cô giáo nhọc sức giảng dạy bài vở, em lắng nghe và cố học thuộc, vì thương sợ thầy cô buồn, đấy là em biết tu. Bạn bè trong lớp có những trò học giỏi hơn em, em không ganh tỵ, trái lại còn kính phục để bắt chước theo, ấy là tâm niệm người tu. Người tu là người biết phục thiện, mỗi khi có lỗi lầm bị rầy, bị phạt, biết lỗi sửa ngay, không oán hờn trách móc. Có những đứa học hành thua kém và thiếu phương tiện hơn em, em thương mến hướng dẫn và giúp đỡ nó, là em khéo tu. Xã hội ngày mai sáng sủa hơn, tốt đẹp hơn, chính nhờ những mầm non biết tu.</p>
<p>TU TRONG CẢNH NGHÈO KHÓ</p>
<p>Chúng ta nghèo tiền nghèo của chớ đâu có nghèo ý nghĩ, lời nói, hành động. Chuyển hóa ý nghĩ xấu thành tốt, lời nói dữ thành hiền, hành động ác thành thiện là tu. Việc này đâu đòi có tiền có của, nhàn rỗi mới làm được. Chính trong cuộc sống vất vả nghèo nàn của chúng ta cần thiết phải có nó. Như có người nghèo khó vất vả mà lòng tốt, lời nói hiền hòa, hành động lương thiện, khiến mọi người thương mến giúp đỡ, nhờ đó mọi khó khăn giảm bớt đi. Ngược lại, nếu ở trong cảnh khó khăn mà ý ngang ngạnh, lời nói hung dữ, hành động bạo ngược, khiến ai nghe thấy cũng ghét cũng lánh xa, nhờ điều gì họ cũng không giúp, thì khó khăn lại càng khó khăn hơn. Hơn nữa, tâm hồn trong sáng, lời nói hiền hòa, hành động thanh cao, dù chúng ta sống trong cảnh nghèo vẫn thấy êm đềm hạnh phúc. Chồng biết nhường vợ, vợ biết kính chồng, con hiếu thuận cha mẹ, cha mẹ thương yêu con cái, gọi là cuộc sống hạt muối cắn hai, thật là lý tưởng biết bao.</p>
<p>TU TRONG CẢNH BỆNH HOẠN</p>
<p>Bình thường người ta cho khi bệnh hoạn là chướng ngại tu hành, đây cũng là quan niệm sai lầm về việc tu. Nếu thấy tụng kinh, tọa thiền mới là tu, khi bệnh hoạn tụng kinh không nổi, tọa thiền không được, đó là chướng ngại tu. Song tu cốt ngăn ngừa phiền não, chiến thắng vọng tưởng, dù có tụng kinh tọa thiền, không tụng kinh tọa thiền đều tu được. Nếu có người bệnh nặng không đi đứng được, nằm một chỗ, khi ấy nằm nhiếp tâm niệm Phật, niệm chí tử, chẳng buồn nghĩ đến ai, lo việc gì, chỉ một bề niệm Phật thôi. Ðây là tu đại tinh tấn theo pháp môn Tịnh độ, đâu có chướng ngại gì. Hoặc có người bệnh, không niệm Phật mà thích quán chiếu, liền quán thân này thấy nó là gốc khổ đau, là tướng vô thường, là hiện tượng nhớp nhúa, là không có chủ, nương thân bệnh quán chiếu tường tận như vậy, thấy được tướng thật của thân, đây là pháp trí tuệ sẽ gần với Niết-bàn, là tu thiền. Khổ nỗi, người Phật tử bình thường tinh tấn tu hành, gặp lúc bệnh hoạn lại thối chuyển, sanh phiền não với con cháu, đây là việc đáng tiếc. Khi mạnh chúng ta tu, để khi yếu bệnh có đủ đạo lực tiếp tục, vì lúc này là lúc gần với tử thần, là phút chiến đấu cuối cùng, nếu ngang đây mà dừng, mà hướng đi chiều khác, thật là một việc hoài công vô ích. Bởi vậy nên, Phật tử chúng ta phải thấy khi bệnh là cơ hội tốt, dồn hết tâm lực vào sự tu, chuyên tâm không lơi niệm, được vậy là gần với Phật, gần Niết-bàn, mới mong thoát khỏi khổ luân hồi muôn kiếp.</p>
<p>TU TRONG CẢNH TẠI GIA</p>
<p>Có một số Phật tử nghĩ rằng, ở tại gia phiền rộn khó tu, được xuất gia rảnh rang tu hành mới giải thoát. Quan niệm này cũng không đúng. Nếu thấy tại gia là nhiều việc, vào chùa chắc gì ít việc? Người xưa nói: “<a href="http://chaymoc.com/kinh-bharadvaja-nguoi-cay-ruong/">Ca-sa vị trước </a>hiềm đa sự, trước dĩ ca-sa sự cánh đa.” (Ca-sa chưa mặc than nhiều việc, được mặc ca-sa việc lại nhiều.) Câu này thật là chua chát đối với người tu. Ðây quả là sợ ông táo gặp ông lò, chạy ô mồ mắc ô mả. Chúng ta đâu không nghe quí thầy trụ trì thường than: “Trụ trì làm dâu trăm họ.” Thế là ít việc hay nhiều việc, phiền rộn hay rảnh rang. Yếu điểm tu hành là hiểu đạo, vững lòng tin.</p>
<p>Ðủ hai điểm này, ở tại gia hay xuất gia đều tu được. Nếu không đủ hai điểm này, dù ở chùa chưa chắc đã tu được. Chúng ta phải khéo linh động trong mọi hoàn cảnh, đừng đòi hỏi phải cảnh thế ấy tu mới được. Sự đòi hỏi đó là cái cớ để chúng ta không tu. Vì có những người không thể tạo được hoàn cảnh như ý. Có những Phật tử nam cũng như nữ, con cái đầy đàn đầy đống mà cứ nằng nặc đòi xuất gia, quăng đại cho người ở nhà làm sao thì làm. Nếu thỏa mãn nguyện vọng, vào chùa một lúc, gặp khi gia đình thiếu thốn, con cái nheo nhóc, nóng lòng rồi gởi ca-sa cho chùa trở về nhà. Ðây là việc làm nông nổi.</p>
<p>CHỨNG MINH MỌI HOÀN CẢNH ÐỀU TU ÐƯỢC</p>
<p>Ngày xưa, đời Ðường ở Trung Hoa có gia đình ông Bàng Long Uẩn, vẫn làm cư sĩ tại gia, mà tu đến được chỗ sanh tử tự tại. Trong giới học Phật từ trước đến nay vẫn ngưỡng mộ công đức tu hành của gia đình ông. Như trong bài sám tu Tịnh độ đã đọc buổi tối, có câu “in như thiền định họ Bàng thuở xưa…” Ông Bàng Long Uẩn trước theo Nho học, sau nghiên cứu Phật thấy thích thú, ông tìm đến tham vấn các thiền sư. Ban đầu, ông đến hỏi Thiền sư Hy Thiên (Thạch Ðầu): “Người không cùng muôn pháp làm bạn là người gì?” Hy Thiên liền bụm miệng ông. Ngay đây ông được ngộ. Sau ông đến tham vấn Mã Tổ (Ðạo Nhất), cũng đem câu ấy ra hỏi. Mã Tổ bảo: “Ông hớp một ngụm cạn hết sông Tây Giang, ta sẽ vì ông nói.” Ông càng tin sâu hơn.<br />
Gia đìng ông, hai ông bà và một con trai, một con gái. Ông cất nhà gần chân núi, mỗi ngày chẻ tre đan sáo, cô con gái gánh ra chợ bán. Sống đạm bạc qua ngày để tu hành. Một hôm, trong nhà cùng ngồi bàn việc đạo, ông nói: “Nan nan nan, thập tạ du ma thọ thượng thang.” (Khó khó khó, mười tạ dầu mè trên cây vuốt.) Bà đáp: “Dị dị dị, bách thảo thượng đầu Tổ sư ý.” (Dễ dễ dễ, trên đầu trăm cỏ ý Tổ sư.) Cô con gái tên Linh Chiếu đáp: “Dã bất dị, dã bất nan, cơ lai khiết phạn, khốn lai thùy.” (Cũng chẳng dễ, cũng chẳng khó, đói đến thì ăn mệt ngủ khò.) Với cái nhìn của ông, thấy sự tu hành thật khó khăn vô kể, giống như người trèo lên cây cao mà bị thoa dầu, trèo lên tuột xuống, không có chỗ để bám. Trái lại, bà thấy việc tu rất dễ, vì nhìn ở đâu cũng thấy ý Tổ sư tràn khắp. Cô Linh Chiếu dung hòa, không nói khó, không nói dễ, khó dễ là hai bên, vượt qua hai bên (nhị kiến) tâm sẽ thanh tịnh thản nhiên, khi ấy chỉ đói đến thì ăn, mệt đến thì ngủ. Câu nói của cô Linh Chiếu dễ bị người sau hiểu lầm, người ta nghĩ rằng tu thiền là đói ăn mệt ngủ, rồi sống theo bản năng, thật là tai họa, chủ yếu cô nói là, khi nào tâm ta không còn mắc kẹt hai bên, khó dễ, tốt xấu, hơn thua, hay dở…, mới đến chỗ đói ăn mệt ngủ.</p>
<p>Lại, ông có làm bài kệ nói sự đoàn tụ của gia đình ông như sau:</p>
<p>Hữu nam bất thú<br />
Hữu nữ bất giá<br />
Ðại gia đoàn biến đầu<br />
Cộng thuyết vô sanh thoại.</p>
<p>Dịch:</p>
<p>Có con trai không cưới vợ<br />
Có con gái không gả chồng<br />
Cả nhà cùng sum họp<br />
Ðồng bàn lời vô sanh.</p>
<p><a href="http://chaymoc.com/tam-tri-con-chi-la-mot-phan-rat-nho/">Về già,</a> một hôm ông lên ngựa giữa ngồi chuẩn bị tịch, bảo Linh Chiếu: “Con ra sân xem đúng ngọ vô cho cha hay.” Cô Linh Chiếu ra xem trở vào thưa: “Gần đúng ngọ, mặt trời bị nguyệt thực, cha ra xem.” Ông ra sân xem, trở vào, thấy Linh Chiếu lên ngựa giữa ngồi kiết già tịch. Ông nói: “Con gái ta lanh lợi quá!” Lo mai táng Linh Chiếu xong, ông báo tin cho thân hữu hay sắp tịch. Hôm ấy bạn bè tụ hội, ông nằm gối đầu trên đầu gối Châu Mục Công, nhắm mắt thị tịch. Tin này đến bà Long Uẩn, bà ra đồng cho con trai hay, người con trai đang đánh trâu cày ruộng, bà bảo: “Con ơi! Ông già vô tri và con bé ngu si đã bỏ mình đi rồi.” Người con trai thưa: “Vậy hở mẹ!” Liền đứng thẳng tịch. Bà nói: “Thằng ngu si này cũng đi nữa.” Bà lo mai táng con trai xong, lên núi tịch. Ðây là hiện tượng sanh tử tự tại của gia đình ông Bàng Long Uẩn. Ông Long Uẩn đan sáo, cô Linh Chiếu bán sáo ngoài chợ, con trai ông cuốc cày ngoài ruộng, bà Long Uẩn ở nhà nấu cơm, đều tu hành đắc lực đến sanh tử tự tại. Tại sao chúng ta lại đổ tại hoàn cảnh này, hoàn cảnh nọ, tu không được?</p>
<p>Ðến đời Trần ở Việt Nam, vua Trần Thánh Tông và Tuệ Trung Thượng sĩ, một ông vua, một ông quan vẫn tu hành đắc lực. Chúng ta ôn lại câu chuyện sau đây. Nhân ngày làm tuần cho Hoàng thái hậu, vua Thánh Tông thỉnh các bậc tôn túc đến dự trai, trong đó có Tuệ Trung Thượng sĩ. Nhà vua yêu cầu các Ngài trình bài kệ ngắn để thấy chỗ kiến giải của các ngài, qua nhiều bài kệ, nhà vua không hài lòng bèn trao giấy bút cho Thượng sĩ. Thượng sĩ viết một mạch:</p>
<p>Kiến giải trình kiến giải<br />
Tợ niết mục tác quái<br />
Niết mục tác quái liễu<br />
Minh minh thường tự tại.</p>
<p>Dịch:</p>
<p>Kiến giải trình kiến giải<br />
Như dụi mắt thấy quái<br />
Dụi mắt thấy quái rồi<br />
Rõ ràng thường tự tại.<br />
Nhà vua đọc xong, liền phê tiếp ở sau:<br />
Minh minh thường tự tại<br />
Diệc niết mục tác quái<br />
Kiến quái bất kiến quái<br />
Kỳ quái tất tự hoại.</p>
<p>Dịch:</p>
<p>Rõ ràng thường tự tại<br />
Cũng dụi mắt thấy quái<br />
Thấy quái chẳng thấy quái<br />
Quái ấy ắt tự hoại.</p>
<p>Kiến giải của chúng ta không thật, giống như dụi mắt trong hư không có những đốm hoa. Khi con mắt <a href="http://chaymoc.com/vong-tay-go-hoang-dan-tuyet/">bình thường </a>trở lại thì những đốm hoa không còn. Những đốm hoa mất đi, ấy là con mắt sáng. Tâm chúng ta bị kiến giải che mờ, một khi kiến giải lặng mất, lúc ấy mới là tâm chân thật sáng suốt. Vua Thánh Tông và Thượng sĩ chỗ thấy như nhau, khác nhau chỉ đối ngược ý trước sau mà thôi. Thượng sĩ nói con mắt dụi thấy hoa đốm, khi hết lòa con mắt trước đã sáng rỡ. Thánh Tông nói con mắt trước đã sáng rõ, do dụi nên thấy hoa đốm, chính khi thấy hoa đốm, biết là không thật thì hoa đốm tự mất, trở lại con mắt sáng như trước.</p>
<p>Vua Thánh Tông đau nặng, Thượng sĩ biên thơ hỏi thăm. Vua trả lời bằng hai câu thơ:<br />
Viêm viêm thử khí hạn thông thân<br />
Vị tằng uyển ngã nương sanh khố.</p>
<p>Dịch:</p>
<p>Hừng hực hơi nóng toát mồ hôi<br />
Chiếc khố mẹ sanh chưa từng ướt.</p>
<p>Thượng sĩ bệnh sơ sài, Ngài kê một giường gỗ nằm tại Dưỡng Chân Trang. Ngài nằm nghiêng bên phải theo phép cát tường, mắt nhắm lại, người hầu và thê thiếp khóc rống lên. Ngài mở mắt ngồi dậy, sai lấy nước rửa tay súc miệng, liền quở nhẹ rằng:</p>
<p>“-Sống chết là lẽ thường, buồn thảm luyến tiếc chi, làm não chân tánh ta”.</p>
<p>Nói xong, Ngài nằm xuống yên lặng mà tịch.</p>
<p><a href="http://chaymoc.com/dung-de-ban-nga-lua-phinh-ban/">Một ông vua </a>khi sắp chết, thấy thân tứ đại tan rã đau đớn, song còn một cái chưa bao giờ tan rã, đây là “chiếc khố mẹ sanh”. Một ông quan sống trong cảnh thê thiếp tôi tớ đầy nhà, mà vẫn nhẹ nhàng thanh thản ra đi, trước mọi người khóc than luyến tiếc. Nếu vì bận rộn khó tu, ai bận rộn hơn một ông vua, nhất là ông vua vì dân vì nước trước cuộc xâm lăng của phương Bắc. Ai bị ràng buộc hơn một ông quan, có đủ thê thiếp tôi tớ đầy nhà. Những vị này tu được, chúng ta không còn lý do gì thối thác khó tu.</p>
<p>Tóm lại, chúng ta là con người chưa có ai toàn hảo, cần phải biết tu để chận đứng những điều xấu dở xuất phát từ ba nghiệp của mình. Ðồng thời chúng ta khéo nuôi dưỡng những hành động tốt đẹp từ thân miệng ý phát ra. Dừng ác nuôi thiện là điều không thể thiếu, nơi con người muốn vươn lên. Khước từ tu hành, là chúng ta khước từ sự tiến bộ, là khước từ mọi đẹp đẽ cao quí, khước từ sự an vui hạnh phúc. Nếu ai quyết chí vươn lên, muốn sống cuộc đời an lạc, muốn gia đình hạnh phúc, muốn xứ sở huy hoàng, tu là chủ yếu thực hiện những điều mong muốn ấy.</p>
<p>Trích &#8220;BƯỚC ĐẦU HỌC PHẬT&#8221; &#8211; H.T Thiền Sư Thích Thanh Từ</p>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com/tu-trong-moi-hoan-canh/">TU TRONG MỌI HOÀN CẢNH &#8211; HT Thích Thanh Từ</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com">Shop Chay Mộc</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://shop.chaymoc.com/tu-trong-moi-hoan-canh/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản &#8211; Đâu Lặc Phạm Chí Kinh</title>
		<link>https://shop.chaymoc.com/kinh-cong-phu-thuc-tap-can-ban/</link>
					<comments>https://shop.chaymoc.com/kinh-cong-phu-thuc-tap-can-ban/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[webmaster]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 22 May 2017 08:48:29 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Lời Phật dạy]]></category>
		<category><![CDATA[buông bỏ]]></category>
		<category><![CDATA[lặng lẽ]]></category>
		<category><![CDATA[mãn nguyện]]></category>
		<category><![CDATA[niềm vui lớn]]></category>
		<category><![CDATA[Niết bàn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chaymoc.com/?p=11036</guid>

					<description><![CDATA[<p> Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản (Đâu Lặc Phạm Chí Kinh) Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ 13, Đại Tạng Tân Tu 198 tương đương với Tuvatake Sutta, Sutta-Nipàta 915-934 Bối Cảnh Đây là kinh Đâu Lặc Phạm...</p>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com/kinh-cong-phu-thuc-tap-can-ban/">Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản &#8211; Đâu Lặc Phạm Chí Kinh</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com">Shop Chay Mộc</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h1 id="parent-fieldname-title" class="documentFirstHeading" style="text-align: center;"> <b>Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản</b></h1>
<div id="content-core">
<div id="parent-fieldname-text-e479e4d27cde75139321115ac4b4a14b" class="">
<p align="center">(Đâu Lặc Phạm Chí Kinh)<br />
Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ 13, Đại Tạng Tân Tu 198<br />
tương đương với Tuvatake Sutta, Sutta-Nipàta 915-934</p>
<p><b>Bối Cảnh<br />
</b></p>
<p>Đây là kinh Đâu Lặc Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên: Tại thành Xá Vệ, trên đỉnh núi Lê Sơn, có hai vị quỷ vương tên là Thất Đầu Tướng Quân và Ô Ma Việt Tướng Quân, mỗi vị thống lãnh một phần đất đai. Hai vị cam kết với nhau rằng nếu vị nào khám phá ra được một cái gì có thể gọi là trân quý thì phải báo cho vị kia. Ô Ma Việt phát hiện một bông sen ngàn cánh lớn như bánh xe màu hoàng kim. Cùng với năm trăm thuộc hạ, vị này tới báo tin cho Thất Đầu. Trong khi đó Thất Đầu đã phát hiện ra được sự có mặt của Bụt. Ông ta đọc một bài kệ dài trên sáu mươi câu để ca tụng Bụt rồi mời Ô Ma Việt với thuộc hạ cùng đi với mình tới thăm Bụt. Trong khi gặp gỡ, có một vị Phạm Chí tên là Đâu Lặc còn chưa rõ về giáo lý và sự thực tập của Bụt. Bụt liền nói kinh này.</p>
<p><a href="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/05/duc-phat.jpg"><img decoding="async" class="aligncenter wp-image-11037 size-full" src="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/05/duc-phat.jpg" alt="phạm chí kinh" width="2114" height="1176" srcset="https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/05/duc-phat.jpg 2114w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/05/duc-phat-300x167.jpg 300w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/05/duc-phat-1024x570.jpg 1024w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/05/duc-phat-768x427.jpg 768w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/05/duc-phat-1536x854.jpg 1536w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/05/duc-phat-2048x1139.jpg 2048w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/05/duc-phat-1x1.jpg 1w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/05/duc-phat-10x6.jpg 10w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/05/duc-phat-600x334.jpg 600w" sizes="(max-width: 2114px) 100vw, 2114px" /></a></p>
<p><i>1. Con xin hỏi bậc thiền giả, bậc thầy</i><i> tâm linh: Một vị khất sĩ làm sao đạt tới sự lặng lẽ? Làm sao để có được sự mãn nguyện và niềm vui lớn?  Vị ấy học hỏi, tu tập như thế nào để chứng nhập được niết bàn và hoàn toàn không còn nắm bắt gì nữa trong cuộc đời?</i></p>
<p><i>2.   Người ấy trước hết phải thấy rằng gốc rễ của mọi ham muốn là tin tưởng vào sự hiện hữu của một cái bản ngã. Từ tri giác sai lầm về bản ngã ấy mà biết bao nhiêu loạn động phát sinh. Nếu trong tâm ái dục đang còn thì bên ngoài còn có nhiều đổ vỡ. Phải luôn luôn thực tập cảnh giác chánh niệm về điều này.</i></p>
<p><i>3.   Đừng thấy mình hơn người, thua người hoặc bằng người. Mỗi khi được thiên hạ xưng tụng và khen ngợi, đừng để cho tâm ngạo mạn cống cao phát sinh.</i></p>
<p><i>4.   Đừng kẹt vào cái sở tri và cái mình đã học hỏi. Phải quán chiếu cả bên trong lẫn bên ngoài. Cần nỗ lực tinh tiến hành trì. Không nắm bắt gì, và không thấy có gì cần nắm bắt.</i></p>
<p><i>5.  Phải làm chủ được mình, phải thực hiện cho được sự bình an nội tâm. Cái bình an ấy không thể tiếp nhận được từ kẻ khác. Do sự thực tập quán chiếu bên trong mà tâm ý yên tĩnh lại được. Cái yên tĩnh ấy không tới từ bên ngoài.<i></i></i></p>
<p><i>6.   Nên an trú trong hiện tại như an trú trong chiều sâu của biển cả. Ở đó có sự bình an, không hề có sóng gió. Sống tĩnh lặng, tất cả năm uẩn đều được làm cho lắng dịu. Đừng để cho tâm ý và các giác quan bị kích động.</i></p>
<p><i>7.   Phải phát tâm cầu mong chứng đạt cho được con mắt của trí tuệ lớn. Tự mình chứng đạt và giúp cho kẻ khác chứng đạt. Phải nuôi dưỡng, chế tác đức từ bi và bao dung. Phải thực tập, quán chiếu và tập trung cho tới mức vững chãi.</i></p>
<p><i>8.  Con mắt đừng nhìn láo liêng bên này bên kia. Không ham nói nhiều, không mất thì giờ nghe những câu chuyện đàm tiếu. Không chạy theo vị ngọt của tham dục. Không có nhu yếu làm sở hữu chủ của bất cứ một cái gì trong cuộc đời.</i></p>
<p>9.  Phải có chánh niệm về những xúc tiếp của cảm quan. Đừng để nẩy sinh ra tâm ý đau buồn. Đừng để nẩy sinh ra tâm ý ham muốn. Đừng để nẩy sinh tâm giận hờn và tâm sợ hãi.</p>
<p><i>10. Khi được cúng dường thức ăn, thức uống và những vật dụng khác như quần áo, thuốc men… phải tiếp nhận vừa đủ nhu cầu của mình, đừng có tâm chất chứa để dành cho mai sau. Phải biết dừng lại, đừng để cho lòng tham kéo đi.</i></p>
<p><i>11. Phải siêng năng thực tập thiền định, ưa ngồi trong rừng cây. Đừng đi vào những nơi đám đông tụ họp, vào chốn hý trường tiêu khiển. Khi ngồi cũng như khi nằm, chọn nơi yên tĩnh và đem hết tâm lực mà hành trì.</i></p>
<p><i>12. Đừng ngủ nhiều, phải học hỏi và tu tập cho nghiêm túc. Đừng lơ là, cũng không nên bi quan. Không đánh mất thì giờ trong các cuộc vui rộn ràng. Những gì mà kẻ thế gian ưa chuộng và chạy theo, mình đều buông bỏ.</i></p>
<p><i>13. Không thực tập phù phép, bùa chú, đoán mộng. Không bói toán, chấm số tử vi, đoán vận mạng, đoán điềm tốt xấu. Không cầu tự, không làm thầy địa lý, không kết nghĩa với người thế gian.</i></p>
<p><i>14. Không mua bán, không tạo lãi. Không hùn vốn để kiếm lợi tức. Gặp gỡ người trong xóm làng, đừng đi theo họ với mục đích mưu cầu lợi dưỡng.</i></p>
<p><i>15. Đừng vừa đi vừa nói chuyện. Không được nói lưỡi hai chiều. Suốt một đời tu chỉ nhắm tới sự nghiệp tuệ giác. Hành trì giới luật đừng để sơ suất, kể cả những giới điều nhỏ nhặt.</i></p>
<p><i>16. Có ai cật vấn, đừng ngại ngùng. Có ai tôn kính, đừng nói lời đại ngôn. Đừng tham lam, đừng tật đố. Đừng nói lưỡi hai chiều, đừng giận dữ hoặc buồn phiền.</i></p>
<p><i>17. Không nói những lời thô, lậu, tà vọng. Đừng làm điều gì có thể gây ra thù oán. Những điều sai quấy đừng bắt chước làm theo. Phải biết hổ thẹn, phải đừng tự hào.</i></p>
<p><i>18. Khi nghe những lời thô ác, không dễ thương của những bạn đồng tu hoặc của người thế tục nên giữ im lặng. Đừng tham dự vào. Cũng đừng phản ứng bằng những lời nói tương tự.</i></p>
<p><i>19. Đã có cơ duyên gặp được chánh pháp của bậc Như Lai thì phải để hết tâm ý hành trì, đừng ham vui nữa. Nên thực tập hết lòng theo lời Gotama chỉ dạy để đạt tới cái yên tĩnh của niết bàn.</i></p>
<p><i>20. Nuôi lớn tuệ giác, chánh pháp không bao giờ lãng quên. Phải tập thấy được chân lý bằng con mắt của chính mình. Vị khất sĩ luôn luôn thực tập theo tuệ giác của đức Như Lai mà không chạy theo những cái hào nhoáng bên ngoài của thế gian nữa.</i><br />
<b>Đại Ý</b></p>
<p>Kinh này là một kinh rất quý đối với người xuất gia vì trong kinh Bụt chỉ dạy rất cặn kẽ và rất thiết thực về công phu thực tập hằng ngày của một vị xuất gia chân chính. Mỗi bài thi kệ là một viên ngọc bích. Có cả thảy là hai mươi bài thi kệ. Kinh này đáng để cho tất cả mọi người xuất gia học thuộc lòng. Kinh này đích thực là cẩm nang của người xuất gia.</p>
<ul>
<li>Bài thi kệ thứ nhất là câu hỏi. Tu tập như thế nào để buông bỏ được mọi nắm bắt và thực chứng được niết bàn?</li>
<li>Bài thứ hai: Phải thực tập chánh niệm để thực chứng được vô ngã, và do đó mới nhổ được gốc rễ của ái dục.</li>
<li>Bài thứ ba: Đã thấy được vô ngã thì ba loại mặc cảm hơn người thua người và bằng người sẽ được tiêu tán.</li>
<li>Bài thứ tư: Vượt sở tri chướng, đừng ôm chặt kiến thức mình có.</li>
<li>Bài thứ năm: Phải có an mới có lạc. Bình an thật sự đến từ bên trong.</li>
<li>Bài thứ sáu: Phải an trú trong hiện tại mới thật sự có bình an. Phải biết cách thực tập chỉ và quán để làm lắng dịu thân và tâm.</li>
<li>Bài thứ bảy: Trái tim của sự thực tập là giới, định và tuệ. Tam học chế tác và nuôi dưỡng tình thương.</li>
<li>Bài thứ tám: Mắt đừng nhìn láo liêng, miệng đừng ham nói nhiều, không chạy theo vị ngọt của tham dục, đừng tìm cách làm sở hữu chủ của bất cứ một cái gì (như một cái hội hay một cái chùa).</li>
<li>Bài thứ chín: Hộ trì sáu căn, đừng để phát sinh tâm hành đau buồn, đam mê và sợ hãi.</li>
<li>Bài thứ mười: Tiêu thụ vừa đủ, có chừng mực.</li>
<li>Bài thứ mười một: Đừng tìm tới những đám đông, những nơi náo nhiệt.</li>
<li>Bài thứ mười hai: Đừng ngủ nhiều, để thì giờ mà học hỏi tu tập. Đừng đánh mất thì giờ trong những cuộc vui rộn ràng.</li>
<li>Bài thứ mười ba và mười bốn: Không sống bằng tà mạng.</li>
<li>Bài thứ mười lăm: Phải thực tập chánh ngữ, ái ngữ.</li>
<li>Bài thứ mười sáu, mười bảy và mười tám: Phải thực tập khiêm cung, tàm quý.</li>
<li>Bài thứ mười chín và hai mươi: Phải tiếp cận chân lý bằng kinh nghiệm của mình chứ không nên vay mượn kiến thức của kẻ khác.</li>
</ul>
<p><b>Bài k</b><b>ệ</b><b> 1</b> <b></b><br />
Nguyện vấn hiền Thần du viết   願 問 賢  神  俞 曰<br />
Viễn khả tĩnh đại  hỉ túc    遠 可 靖 大 喜 足<br />
Tùng hà kiến học đắc diệt   從 何 見 學 得 滅<br />
Tất bất thọ thế sở hữu   悉 不 受 世 所 有<br />
<b></b><br />
<b>Bài k</b><b>ệ 2</b> <b></b><br />
Bổn thị dục đa hiện ngã     本  是  欲  多  現  我<br />
Tùng nhất ỷ tiện tất loạn     從  一  綺  便  悉  亂<br />
Sở khả hữu nội ái dục        所  可  有  內  愛  欲<br />
Tùng hóa  hoại  thường giác thức    從  化  壞  常  覺  識<br />
<b></b><br />
<b>Bài k</b><b>ệ 3</b> <b></b><br />
Mạc dụng thị tiện tự kiến     莫 用 是 便 自 見<br />
Bất cập giảm nhược dữ đẳng   不 及 減 若 與 等<br />
Tuy kiến dự chúng sở xưng      雖 見 譽 眾 所 稱<br />
Mạc cống cao quyết bỉ trú      莫 貢 高 蹶 彼 住<br />
<b></b><br />
<b>Bài k</b><b>ệ 4</b> <b></b><br />
Như sở Pháp vi dĩ tri      如 所 法 為 已 知<br />
Nhược tại nội nhược tại ngoại      若 在 內 若 在 外<br />
Cường lực tiến sở tại tác     強 力 進 所 在 作<br />
Vô sở đắc thủ vô hữu    無 所 得 取 無 有<br />
<b></b><br />
<b>Bài k</b><b>ệ 5</b> <b></b><br />
Thả tự thủ hành cầu diệt   且  自  守  行  求  滅<br />
Học mạc tùng bỉ cầu diệt    學  莫  從  彼  求  滅<br />
Dĩ nội hành ý trước diệt      以  內  行  意  著  滅<br />
Diệc bất nhập tùng hà hữu   亦  不  入  從  何  有<br />
<b></b><br />
<b>Bài kệ 6</b><b> </b><b></b><b></b><br />
Tại xứ như hải trung ương   在  處  如  海  中  央<br />
Vô triều ba an bình chánh      無  潮  波  安 平  正<br />
Nhất thiết chỉ trụ diệc nhĩ    一  切  止  住  亦  爾<br />
Giác mạc tăng thức dữ  ý      覺  莫  增  識  與  意<i> </i><br />
<b></b><br />
<b>Bài k</b><b>ệ 7</b> <b></b><br />
Nguyện tác Đại Tuệ nhãn thị    願 作 大 慧 眼 視<br />
Dĩ chứng Pháp phục hiện bỉ     已 證 法 復 現 彼<br />
Nguyện tác quang nhân thiện  thứ   願 作 光 仁 善 恕<br />
Chư kiểm thức tùng trí định    諸 撿 式 從 致 定<b> </b><br />
<b></b><br />
<b>Bài k</b><b>ệ 8</b> <b></b><br />
Thả  nhiếp nhãn tả hữu trước    且 攝 眼 左 右 著<br />
Bất thọ ngôn quan bế thính   不 受 言 關 閉 聽<br />
Giới sở vị  mạc tham trước    戒 所 味 莫 貪 著<br />
Ngã vô sở thế sở hữu     我 無 所 世 所 有<br />
<b></b><br />
<b>Bài k</b><b>ệ 9</b> <b></b><br />
Thân sở hữu nhược thô tế    身 所 有 若 麤 細<br />
Mạc hoàn niệm tác bi tư      莫 還 念 作 悲 思<br />
Sở khả niệm tiện sanh nguyện     所 可 念 便 生 願<br />
Hữu lai khủng tuệ mạc úy      有 來 恐 慧 莫 畏<b> </b><br />
<b></b><br />
<b></b><br />
<b>Bài k</b><b>ệ 10</b> <b></b><br />
Sở đắc lương cập ẩm  tương    所 得 糧 及 飲 漿<br />
Sở đương dụng nhược y bị     所 當 用 若 衣 被<br />
Thủ túc chỉ mạc lự hậu       取 足 止 莫 慮 後<br />
Tùng thị chỉ dư mạc tham     從 是 止 餘 莫 貪<br />
<b></b><br />
<b>Bài k</b><b>ệ 11</b> <b></b><br />
Thường hành định lạc thọ gian   常 行 定 樂 樹 間<br />
Xả thị lý vô hí phạm    捨 是 理 無 戲 犯<br />
Nhược tại tọa nhược tại ngọa     若 在 坐 若 在 臥<br />
Nhàn tĩnh xứ học lực hành     閑 靜 處 學 力 行<br />
<b></b><br />
<b>Bài k</b><b>ệ 12</b><br />
Mạc tự oán quyên thùy ngọa    莫 自 怨 捐 睡 臥<br />
Tại  học hành thường nghiêm sự   在 學 行 常 嚴 事<br />
Khí ám hốt cập hí hư　  棄 晻 忽 及 戲 譃<br />
Dục thế hảo tất viễn ly     欲 世 好 悉 遠 離<br />
<b></b><br />
<b>Bài k</b><b>ệ 13</b> <b></b><br />
Xả binh tạc hiểu giải mộng    捨  兵  鑿  曉  解  夢<br />
Mạc quán túc thiện ác hiện   莫  觀  宿  善  惡  現<br />
Mạc hiện tuệ ư bào thai      莫  現  慧  於  胞  胎<br />
Tất mạc tạc khả thiên thân   悉  莫  鑿  可  天  親</p>
<p><b>Bài k</b><b>ệ 14</b> <b></b><br />
Mạc tạo tác ư mại  mãi    莫 造 作 於 賣 買<br />
Mạc ư bỉ hành khi lợi    莫 於 彼 行 欺 利<br />
Mạc tác tham chỉ huyền quốc  莫 作 貪 止 縣 國<br />
Mạc tùng bỉ cầu dục lợi   莫 從 彼 求 欲 利<br />
<b></b><br />
<b>Bài k</b><b>ệ 15</b> <b></b><br />
Mạc lạc hành bất thành thuyết   莫 樂 行 不 誠 說<br />
Tất mạc hành lưỡng diện từ    悉 莫 行 兩 面 辭<br />
Tận thọ cầu tuệ sở hành   盡 壽 求 慧 所 行<br />
Cụ trì giới mạc khinh lậu    具 持 戒 莫 輕 漏<br />
<b></b><br />
<b>Bài k</b><b>ệ 16</b> <b></b><br />
Hoành lai cật mạc khởi khủng   橫 來 詰 莫 起 恐<br />
Kiến tôn kính mạc đại  ngữ   見 尊 敬 莫 大 語<br />
Sở tham khí bất khả tật       所 貪 棄 不 可 嫉<br />
Xả lưỡng thiệt nhuế bi Pháp    捨 兩 舌 恚 悲 法<br />
<b></b><br />
<b>Bài k</b><b>ệ 17</b> <b></b><br />
Sở dục ngôn học tham trước   所 欲 言 學 貪 著<br />
Mạc xuất thanh thô tà lậu     莫 出 聲 麤 邪 漏<br />
Vô tu tàm mạc tùng học     無 羞 慚 莫 從 學<br />
Sở thí hành mạc thủ oán    所 施 行 莫 取 怨<br />
<b></b><br />
<b>Bài k</b><b>ệ 18</b> <b></b><br />
Văn thô ác bất thiện thanh     聞 麤 惡 不 善 聲<br />
Tùng đồng học nhược phàm nhân     從 同 學 若 凡 人<br />
Thiện quan bế mạc dữ đồng     善 關 閉 莫 與 同<br />
Tuệ phản ưng bất quá thân         慧 反 應 不 過 身<b> </b><br />
<b></b><br />
<b>Bài k</b><b>ệ 19</b><br />
Tri Như Lai đế dĩ chánh   知 如 來 諦 已 正<br />
Bất hí tác trước ý tác     不 戲 作 著 意 作<br />
Tùng yến tịnh kiến dĩ diệt    從 宴 淨 見 已 滅<br />
Bất hí nghi Cồ Đàm giáo      不 戲 疑 瞿 曇 教</p>
<p><b>Bài k</b><b>ệ 20</b> <b></b><br />
Tự trí tuệ bất vong Pháp  自 致 慧 不 忘 法<br />
Chứng Pháp vô số dĩ kiến  證 法 無 數 已 見<br />
Thường tùng tuệ Như Lai học 常 從 慧 如 來 學<br />
Hảo bất trước tùng thị tuệ   好 不 著 從 是 慧</p>
<p style="text-align: right;">THÍCH NHẤT HẠNH</p>
<p style="text-align: right;"><em>langmai.org</em></p>
</div>
</div>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com/kinh-cong-phu-thuc-tap-can-ban/">Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản &#8211; Đâu Lặc Phạm Chí Kinh</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com">Shop Chay Mộc</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://shop.chaymoc.com/kinh-cong-phu-thuc-tap-can-ban/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Các loại hạt giống trong tâm ta là những gì? Làm sao nhận diện được chúng?</title>
		<link>https://shop.chaymoc.com/cac-loai-hat-giong/</link>
					<comments>https://shop.chaymoc.com/cac-loai-hat-giong/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[webmaster]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 17 Apr 2017 02:56:30 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Lời Phật dạy]]></category>
		<category><![CDATA[Đau khổ]]></category>
		<category><![CDATA[hạnh phúc]]></category>
		<category><![CDATA[hạt giống]]></category>
		<category><![CDATA[Niết bàn]]></category>
		<category><![CDATA[sinh tử]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chaymoc.com/?p=10506</guid>

					<description><![CDATA[<p>Bài tụng 2: Các loại hạt giống Hạt giống có đủ loại Sinh tử và niết bàn Mê ngộ và khổ vui Danh xưng và tướng trạng. Hạt giống có đủ loại: đủ loại có nghĩa là không...</p>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com/cac-loai-hat-giong/">Các loại hạt giống trong tâm ta là những gì? Làm sao nhận diện được chúng?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com">Shop Chay Mộc</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h1 id="parent-fieldname-title" class="documentFirstHeading">Bài tụng 2: Các loại hạt giống</h1>
<div id="content-core">
<div id="parent-fieldname-text-5bcc9776fec31ec1ed4fd3230d0ed0d1" class="">
<p><b>Hạt giống có đủ loại<br />
Sinh tử và niết bàn<br />
Mê ngộ và khổ vui<br />
Danh xưng và tướng trạng.</b></p>
<p><a href="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/04/vuon-hat-giong.jpg"><img decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-10507" src="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/04/vuon-hat-giong.jpg" alt="hạt giống" width="1600" height="890" srcset="https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/04/vuon-hat-giong.jpg 1600w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/04/vuon-hat-giong-300x167.jpg 300w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/04/vuon-hat-giong-1024x570.jpg 1024w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/04/vuon-hat-giong-768x427.jpg 768w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/04/vuon-hat-giong-1536x854.jpg 1536w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/04/vuon-hat-giong-1x1.jpg 1w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/04/vuon-hat-giong-10x6.jpg 10w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/04/vuon-hat-giong-600x334.jpg 600w" sizes="(max-width: 1600px) 100vw, 1600px" /></a></p>
<p><b><i>Hạt giống có đủ loại</i>: </b>đủ loại có nghĩa là không có hạt giống nào mà không có. Có hạt giống yếu, có hạt giống mạnh, có hạt giống lớn, có hạt giống nhỏ, đủ thứ hết. Có hạt giống sinh tử, có hạt giống niết bàn, có hạt giống đau khổ, hạt giống hạnh phúc. Trong bài tụng thứ nhất chúng ta có nói đến hạt giống trung kiên và hạt giống phản bội. Có hạt giống trung kiên không có nghĩa là không có hạt giống phản bội.</p>
<p><b><i>Sinh tử và niết bàn</i>:</b> Ta có hạt giống của sinh tử và hạt giống của niết bàn. Sinh tử ở đây có nghĩa là trôi lăn, hụp lặn trong khổ đau chứ không có nghĩa là sinh ra rồi chết đi. Luân hồi có nghĩa là khổ cách này rồi khổ cách khác. Trôi lăn trong sinh tử, trong cõi luân hồi, không phải đợi năm sáu chục năm mới sinh tử một lần. Mỗi ngày chúng ta có thể sinh tử hàng triệu lần. Sinh tử trong thân, sinh tử trong tâm. Trong một giờ mà ta có thể sinh tử biết bao nhiêu kiếp. Chết rất nhiều lần trong một giờ đồng hồ, khổ đau vô lượng. Sinh tử là khía cạnh khổ đau của sự sống trong đó có sự sợ hãi, căm thù, buồn khổ.</p>
<p>Niết bàn là ngược lại, là chấm dứt sinh tử, là không sợ hãi, là mát mẻ, vững chãi. Niết bàn là chấm dứt vòng luân hồi đau khổ. Giải thoát không tới từ bên ngoài, cũng không phải là thứ gì ai cho ta, kể cả Bụt. Hạt giống giác ngộ giải thoát có sẵn trong tâm thức ta, đó là Phật tánh, là khả năng giác ngộ mà chúng ta ai cũng có, chỉ cần nuôi dưỡng là nó hiện khởi ra.</p>
<p>Chúng ta rất khó vượt thoát được cái vòng sinh tử. Cha mẹ chúng ta đau khổ nên truyền lại cho ta những hạt giống tiêu cực và đau khổ. Nếu chúng ta không nhận biết và chuyển hóa được những hạt giống bất thiện trong tâm thức, thì chắc chắn chúng ta sẽ truyền xuống cho con cháu chúng ta. Sự trao truyền liên tục các hạt giống sợ hãi và khổ đau đó tạo nên cõi Ta bà. Đồng thời cha mẹ chúng ta cũng truyền cho ta những hạt giống hạnh phúc. Khi thực tập chánh niệm, hàng ngày ta có thể nhận biết và tưới tẩm các hạt giống thiện đó trong ta và trong người khác.</p>
<p>Chúng ta có đủ hạt giống của sinh tử, hạt giống của niết bàn. Hai loại hạt giống đó không hẳn chống báng nhau, đánh giặc với nhau. Đừng tưởng tượng là niết bàn và sinh tử đang đánh giặc trong ta. Đừng tưởng hoa và rác đang đánh giặc với nhau. Nhìn sâu thì chúng ta thấy rằng trong rác có hoa. Nếu khéo thì chúng ta có thể biến rác thành hoa. Trái lại trong hoa có rác. Nếu không khéo, không sống trong chánh niệm thì hoa biến thành rác rất mau chóng. Không những hoa biến thành rác mà ngay trong hoa có rác và ngay trong rác cũng có hoa. Chúng ta không thấy vì nó chưa biểu hiện đó thôi. Nếu là người phàm phu thì phải đợi mười ngày mới thấy hoa là rác. Còn người thực tập tỉnh thức thì thấy ngay trong hoa có rác. Người mê nhìn hoa chỉ thấy hoa mà thôi, người ngộ thì thấy trong hoa có rác và không sợ rác vì biết rằng không có rác thì làm gì có hoa. Cho nên cầm hoa trong tay thì biết ơn rác chớ không hẳn phải thù hận rác. Hoa không thù rác, chỉ có chúng ta u mê mới thù rác.</p>
<p>Chúng ta nhìn Bụt và nghĩ rằng Bụt với Ma là hai kẻ thù không nhìn mặt nhau. Đó là ta nhìn với con mắt phàm tục. Nếu ta nhìn bằng con mắt tỉnh táo thì ta thấy rằng Bụt và Ma Vương có thể nắm tay nhau đi thiền hành rất là thân ái. Ngày xưa tác giả đã viết một bài về cuộc gặp gỡ giữa Bụt và Ma Vương (sách Nẻo Về Của Ý).</p>
<p>Trong kinh Đại Thừa có nói &#8220;<i>Niết bàn sinh tử thị không hoa</i>&#8221; có nghĩa là niết bàn và sinh tử là hoa đốm giữa hư không. Trước hết, chúng ta có ý niệm sai lầm, cho là niết bàn và sinh tử chống báng nhau. Thật ra thì phải sử dụng chất liệu sinh tử để làm ra niết bàn và sử dụng niết bàn làm chất liệu để làm ra sinh tử. Cũng giống như hoa và rác. Rác là chất liệu để làm thành hoa và hoa là chất liệu để làm thành rác. Đau khổ là chất liệu có thể tạo ra hạnh phúc. Nếu thấy được như vậy thì không còn sợ hãi nữa, không còn trốn chạy nữa. Những người chán sinh tử để tìm niết bàn phải học để thấy rằng chỉ có thể tìm niết bàn ở trong sinh tử.</p>
<p>Một thiền sinh hỏi Thiền sư Thiện Hội đời Lý: &#8220;Thầy dạy con phải tìm đạt cho được cảnh giới không sinh tử thì con phải đi tìm cảnh giới không sinh tử ở đâu?&#8221; Vị thiền sư trả lời: &#8220;Con tìm ngay ở chỗ sinh tử&#8221;. Đó là một thái độ rất khôn ngoan. Vì anh trốn chạy rác nên không bao giờ anh tìm ra hoa cả.</p>
<p>Nếu biết sử dụng ba chìa khóa mà Bụt trao cho là vô thường, vô ngã, niết bàn để mở cửa thực tại thì sẽ tìm thấy an ổn, vững chãi ngay trong sợ hãi, sầu khổ. Trong kinh Đại thừa có câu nói đáng giật mình, mà nhiều người không hiểu: &#8220;<i>Phiền não tức bồ đề</i>&#8220;. Biết được điều đó thì không còn sợ phiền não nữa. Thường thì phiền não là ngược lại với bồ đề, phiền não là u mê, tham giận, kiêu căng, bồ đề là giác ngộ, vững chãi. Cho nên khi nói rằng &#8220;muốn đi tìm an lạc, muốn đi tìm niết bàn thì phải diệt cho hết phiền não đi đã&#8221; là chưa thấy được nguyên tắc hành đạo, chẳng khác gì người làm vườn vừa có cọng rác nào là đem vứt đi hết tới khi cần phân để trồng trọt thì không còn chi.</p>
<p><i><b>M</b><b>ê ngộ và khổ vui</b></i>: Chúng ta có hạt giống của đủ thứ khổ và hạt giống của đủ thứ vui. Có những niềm vui sâu sắc, có những niềm vui cạn cợt che giấu những nổi khổ lâu dài. Chúng ta có hạt giống mê nhưng cũng có hạt giống ngộ. Sống trong đời ai mà không đi qua những cơn mê. Nhưng mê hoài rồi cũng đến khi tỉnh. Có tỉnh tức là có ngộ. Sở dĩ tỉnh được là vì có hạt giống ngộ trong mình. Theo giáo lý Duy Biểu thì chúng ta có sẵn hạt giống ngộ trong mình. Đôi khi những khổ đau do cơn mê giúp chúng ta tiếp xúc được những hạt giống của ngộ và chúng ta tỉnh dậy. Mê và ngộ không hẳn là thù địch. Người ta thường nói đại nghi thì đại ngộ, đại mê thì đại tỉnh.</p>
<p><i><b>Danh xưng và tướng trạng</b>. </i>Danh xưng  (lakṣaṇa) là một loại hạt giống. Tướng trạng (samjñā-lakṣaṇa &#8211; Perception) là một loại hạt giống khác. Danh xưng là tên gọi của sự vật. Trong tàng thức có đủ thứ hạt giống về tên gọi. Hạt giống danh xưng gọi cái này là núi, cái kia là sông. Tàng thức chứa nhiều danh từ: danh từ Bụt, danh từ ma, danh từ cha, danh từ mẹ. Đó là những hạt giống về danh xưng. Đối với loài người thì những hạt giống về danh xưng rất quan trọng. Mỗi hạt giống về danh xưng làm phát khởi những hạt giống về tướng trạng. Danh xưng gốc từ nhĩ thức (aural consciousness), tướng trạng gốc từ nhãn thức (visual consciousness). Ví dụ trong tàng thức chúng ta đang có hạt giống danh xưng Paris mà cũng là hạt giống tướng trạng Paris. Nếu có người nói đến chữ Paris tức là họ động đến hạt giống danh xưng Paris và đồng thời động đến những hạt giống tướng trạng Paris trong ta như là tháp Eiffel, nhà thờ Notre Dame.</p>
<p>Tướng trạng, đối tượng của tri giác, có thể rất xa với sự thật, có thể hoàn toàn do sự tạo dựng, tưởng tượng của tâm thức. Chúng ta không biết được, không thấy được ranh giới của sự thật về những gì mà ta tiếp nhận bằng tri giác. Ví dụ như khi nói đến danh từ Bụt thì trong ta hiện ra hình ảnh về Bụt. Hình ảnh về Bụt đó phát xuất từ một hạt giống chúng ta tiếp nhận khi nhìn một tượng Bụt lúc còn bé thơ hoặc những điều mà đã đọc được về Bụt. Nội dung của tri giác đó về Bụt được cất chứa trong tâm chúng ta. Nhưng mà hình ảnh về Bụt đó có phải là hình ảnh của Bụt tự thân hay chỉ là hình ảnh của Bụt trong tâm mà chúng ta đã gán cho Bụt mà thôi?  Lúc ba bốn tuổi chúng ta có một ý niệm về Bụt. Lớn lên đi chùa được nghe dạy về Bụt thì ý niệm ngây thơ về Bụt không còn nữa và chúng ta có một ý niệm khác hơn, có vẻ rõ rệt hơn về Bụt. Nhưng chưa chắc ý niệm đó đã phù hợp với thực tại.</p>
<p>Những đối tượng của tri giác cất giữ trong tâm thức thường do tâm thức tạo tác nhiều hơn là sự thật. Có thể là chúng ta rất thương kính Bụt và nghĩ rằng khi gặp Bụt chúng ta sẽ lạy xuống liền và đi theo Ngài không rời một giây phút nào để nghe Ngài thuyết pháp, dạy dỗ. Nhưng có thể rằng ngày mai gặp Bụt ở ga xe lửa St. Foy La Grande thì chúng ta không muốn nhìn, tại vì chúng ta có một hình ảnh khác về Ngài. Bụt mà chúng ta gặp ở St. Foy La Grande có thể là Bụt thật nhưng chúng ta không thèm để ý tới. Chúng ta tin chắc là Bụt thì phải có hào quang, phải khoác áo vàng. Tới chừng gặp Bụt mặc áo sơ mi thì chúng ta không chịu. Bụt gì mà mặc áo sơ mi? Bụt gì mà không có hào quang? Có thể mình chưa biết Bụt ra sao cả. Mình chỉ nghe nói về danh từ về Bụt và dựng lên một hình ảnh về Bụt khác xa với thực tại về Bụt.</p>
<p>Một ví dụ khác: người mà ta thương, đối tượng của sự thương yêu của chúng ta có thể không giống với người trong thực tại. Chúng ta tạo tác ra hình ảnh này hình ảnh nọ về người đó, lý tưởng hóa người đó, thấy người đó đẹp hơn trong thực tại. Khi ghét cũng vậy, chúng ta tạo tác ra một hình ảnh về người đó trong ta. Nghe đến tên người đó thì đùng đùng nổi giận và những hình ảnh dễ ghét có thể không phù hợp với thực tại của người đó.</p>
<p>Ngay đến nhận thức đối với chính chúng ta cũng vậy. Chúng ta có thể có tri giác rất sai lầm về chính chúng ta. Có khi chúng ta tự thù ghét, tự khinh miệt mà thật ra có thể không như vậy. Chúng ta có những khả năng, những tài ba mà vì những trở lực ngăn che nào đó mà ta chưa phát triển được đó thôi.</p>
<p>Chúng ta chất chứa rất nhiều hình ảnh sai lầm và sống trong một thế giới đầy dẫy những sai lầm và ảo tưởng. Vậy mà chúng ta cứ nghĩ rằng chúng ta đang tiếp xúc thật sự với thế giới, với loài người và những loài khác. Tri giác (tưởng) đưa vào tâm thức nhiều hạt giống về danh xưng và tướng trạng và chúng ta sống với thế giới đó. Chính cái thế giới mà chúng ta tự tạo tác bằng những ảo giác đó đã ngăn che không cho chúng ta tiếp xúc với sự thật khi đối diện sự thật. Lý Thường Kiệt, Tổng Thống Mitterand, núi Alpes là những danh xưng mà mỗi khi có các danh xưng đó thì chúng ta tin tưởng rằng chúng ta có cái thực tại mà danh xưng đó đại diện. Đó là điều rất là sai lầm. Những nhận thức, tri giác sai lầm mang tới rất nhiều khổ đau. Chúng ta đoan chắc rằng các tri giác của mình là chính xác và hoàn hảo, nhưng thường chúng không phải như vậy.</p>
<p><b><i>Tướng và tưởng</i></b></p>
<p>Tướng là hình ảnh về thực tại. Hình ảnh đó có được là do tưởng, do tri giác. Tưởng (tri giác) có hai phần: chủ thể (tưởng) và đối tượng (tướng). Chủ thể sai lạc thì đối tượng cũng sai lạc. Đối tượng méo mó thì chủ thể cũng méo mó. Tri giác sai lầm tạo nên không biết bao nhiêu là vấn đề. Chúng ta hiểu lầm, nhận lầm. Tất cả những đau khổ đều phát sinh ra từ những nhận thức sai lầm về sự vật. Chúng ta có biết được bao nhiêu đâu! Chúng ta chỉ có một số danh từ, một số hình ảnh quá xa lạ và sai lạc. Vậy mà chúng ta cương quyết là đã biết rõ rồi, đã nắm vững về sự thật cả rồi! Tất cả những đau khổ đều từ đó mà phát sinh, từ những tri giác sai lầm mà phát sinh. Người ấy ghét mình, không thèm nhìn mình, người ấy không công nhận sự có mặt của mình, người ấy muốn tiêu diệt mình. Toàn là những tạo tác cường điệu của tâm thức mà thôi.</p>
<p>Luôn luôn phải khiêm nhường tự hỏi: tri giác tôi đã chính xác chưa? Có chắc vậy không? Nó gần với sự thật được mấy mươi phần trăm? Luôn luôn phải cho mình một không gian và một thời gian để cho tri giác của mình được sâu sắc vững chãi hơn. Thiền tập là để đi tới những tri giác chính xác hơn.</p>
<p><b><i>Tự tướng, cộng tướng</i></b></p>
<p>Có nhiều loại tướng. Có khi ta nói đến sáu tướng, có khi nói đến bốn tướng và có khi nói đến hai tướng. Ở đây chúng ta chỉ nói đến hai tướng là tự tướng và cộng tướng.</p>
<p>Ví dụ như con ngựa. Ngựa là cộng tướng. Bất cứ con ngựa nào cũng đều được gọi là ngựa. Nhưng khi nói tới ngựa Kiền Trắc hoặc ngựa Xích Thố thì không thể coi là cộng tướng được vì mỗi con ngựa có đặc trưng riêng và chỉ có một giống ngựa tên Kiền Trắc hay Xích Thố mà thôi. Triết học Trung Hoa nói &#8220;Ngựa trắng không phải là ngựa&#8221;. Tại vì có nhiều loại ngựa: ngựa ô, ngựa nâu, ngựa vàng&#8230; Ngựa trắng là một loại ngựa quá đặc biệt, nó không phải là ngựa nữa. Ngựa là tướng chung nhưng ngựa trắng có tướng riêng. Chúng ta sẽ từ từ đi vào ý niệm về tướng chung và tướng riêng trong những bài tụng sau.</p>
<p style="text-align: right;"><em>Duy biểu học</em></p>
<p style="text-align: right;"><strong>Thích Nhất Hạnh</strong></p>
</div>
</div>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com/cac-loai-hat-giong/">Các loại hạt giống trong tâm ta là những gì? Làm sao nhận diện được chúng?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com">Shop Chay Mộc</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://shop.chaymoc.com/cac-loai-hat-giong/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Không có con đường đi đến Niết bàn, Niết bàn chính là con đường</title>
		<link>https://shop.chaymoc.com/khong-co-con-duong-di-den-niet-ban-niet-ban-chinh-la-con-duong/</link>
					<comments>https://shop.chaymoc.com/khong-co-con-duong-di-den-niet-ban-niet-ban-chinh-la-con-duong/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[webmaster]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 26 Dec 2016 04:50:14 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Vào cửa Phật]]></category>
		<category><![CDATA[dao phat]]></category>
		<category><![CDATA[Niết bàn]]></category>
		<category><![CDATA[phat giao]]></category>
		<category><![CDATA[thich nhat hanh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chaymoc.com/?p=4297</guid>

					<description><![CDATA[<p>Trong đạo Bụt cũng vậy, trong bình diện sự thật ước lệ cũng có những sự thật có thể ứng dụng được. Nhưng đi sâu vào tiếp xúc với sự thật tuyệt đối thì ta tìm ra được...</p>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com/khong-co-con-duong-di-den-niet-ban-niet-ban-chinh-la-con-duong/">Không có con đường đi đến Niết bàn, Niết bàn chính là con đường</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com">Shop Chay Mộc</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Trong đạo Bụt cũng vậy, trong bình diện sự thật ước lệ cũng có những sự thật có thể ứng dụng được. Nhưng đi sâu vào tiếp xúc với sự thật tuyệt đối thì ta tìm ra được những chân lý khác, và những chân lý khác đó ta cũng có thể áp dụng được. Ví dụ như ta đang ngồi đây, ta thấy chắc chắn là phía trên đầu ta là phía trên và dưới chân ta là phía dưới. Ta sẽ không đồng ý nếu có người nói ngược lại. Nhưng những người ngồi ở bên kia bán cầu thì thấy ngược lại: phía trên của ta là phía dưới của họ. Sự thật là không trên không dưới, cái dưới của anh là cái trên của tôi và cái dưới của tôi là cái trên của anh.</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-3337" src="https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/dqd_by_duongquocdinh-d53rugq.jpg" alt="dqd_by_duongquocdinh-d53rugq" width="800" height="336" srcset="https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/dqd_by_duongquocdinh-d53rugq.jpg 800w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/dqd_by_duongquocdinh-d53rugq-300x126.jpg 300w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/dqd_by_duongquocdinh-d53rugq-768x323.jpg 768w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/dqd_by_duongquocdinh-d53rugq-1x1.jpg 1w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/dqd_by_duongquocdinh-d53rugq-10x4.jpg 10w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2016/12/dqd_by_duongquocdinh-d53rugq-600x252.jpg 600w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></p>
<p>Chúng ta có thể áp dụng được cả hai loại sự thật. Nếu không áp dụng sự thật có trên có dưới thì ta không thể làm kiến trúc sư, vì ta phải xây tầng dưới trước rồi mới xây được tầng thứ hai. Nhưng sự thật không trên không dưới cũng có thể ứng dụng được. Ta cứ nghĩ là mình đi thẳng, thật ra là ta đi đường vòng rồi trở lại chỗ ban đầu của mình vì quả địa cầu tròn. Có hai loại sự thật mà loại nào ta cũng có thể ứng dụng được. Trong khóa tu này chúng ta phải rất cẩn thận, nghe một câu kinh hay một giáo lý ta phải có khả năng nhận diện câu kinh đó hay giáo lý đó thuộc loại sự thật nào.</p>
<p>Trên bình diện của sự thật ước lệ thì có khổ đau và hạnh phúc nhưng xuống bình diện của sự thật tuyệt đối thì khổ đau và hạnh phúc không thể tách rời nhau được. Cũng như ta không thể tách bùn ra khỏi hoa sen, lấy bùn đi thì cũng không còn sen. Trên bình diện sự thật tương đối ta có thánh và phàm, thánh thì khác phàm. Có người muốn thành thánh hoàn toàn nên muốn tiêu diệt chất phàm còn dư lại. Đó là cách suy tư và hành động theo tiêu chuẩn của sự thật ước lệ. Nhưng xuống tới bình diện sự thật tuyệt đối thì nếu không có chất phàm thì ta không thể nào làm ra chất thánh. Ta luôn luôn cần chất phàm để làm ra chất thánh. Không bao giờ ta có thể có 100% chất thánh mà không có chất phàm nào. Cũng như ta chỉ muốn có tay phải mà không có tay trái, nhưng hễ có tay phải thì có tay trái. Đó là luật tương tức, là cái thấy của bản môn: còn phàm thì còn thánh, hết phàm thì thánh cũng không còn.</p>
<p>Trên bình diện sự thật ước lệ thì diệt và đạo khác nhau nhưng xuống dưới bình diện sự thật tuyệt đối thì diệt (chỗ đến) và đạo (con đường) không phải là hai cái khác nhau. Ví dụ như chúng ta thường nói: There is no way to peace, peace is the way. Không có con đường đưa tới hòa bình, hòa bình chính là con đường. Ban đầu ta nghĩ có hòa bình và có một con đường đưa tới hòa bình, hòa bình khác với con đường. Đó là bình diện của thế tục đế. Xuống tới bình diện của thắng nghĩa đế thì hòa bình chính là con đường. Câu nói “không có con đường đưa tới hòa bình, hòa bình chính là con đường” rất quan trọng. Chúng ta phải áp dụng được câu nói đó thì mới có hòa bình thật sự. Tại vì nếu dùng những biện pháp bạo động, bá đạo để có hòa bình thì ta sẽ thất bại ngay từ trong trứng nước. Bất cứ một tư tưởng, một lời nói hay một hành động nào ta sử dụng cho hòa bình thì chính nó phải là hòa bình. Hòa bình chính là tư tưởng, là lời nói, là hành động của ta. Ta có hòa bình ngay trong giây phút hiện tại. Phương tiện và cứu cánh là một, không thể lấy phương tiện ra khỏi cứu cánh, cũng không thể lấy cứu cánh ra khỏi phương tiện. Đời sống của ta chính là hòa bình.</p>
<p>Niết bàn và con đường đi tới Niết bàn cũng vậy, trên bình diện thế tục đế ta thấy có Niết bàn và có con đường đi tới Niết bàn nhưng nhìn kỹ thì Niết bàn chính là con đường. Nếu ta thật sự sống theo Bát chánh đạo thì mỗi giây phút sống là Niết bàn. Ví dụ như từ Bordeaux đi Paris, nếu ở ga Saint Jean (Bordeaux) ta lên đúng xe lửa đi Paris thì lúc ta bước lên xe lửa đã là Paris rồi. Nhưng nếu lên nhầm xe lửa đi Marseilles thì ta sẽ không bao giờ tới được Paris. Paris nằm ở mọi điểm trên con đường Bordeaux-Paris, Paris có trong mỗi bước chân đi, còn như nếu ta đi ngược lại Paris-Bordeaux thì bước nào cũng là Bordeaux, Bordeaux hay Paris là tùy theo hướng của ta đi. Từ Bordeaux ta muốn đi Paris, nếu đi đúng hướng thì mỗi bước là Paris, còn nếu đi ngược hướng thì mỗi bước là Bordeaux. Vì vậy con đường và nơi đến là một. Nếu Bát chánh đạo được thực tập một cách đúng đắn thì mỗi giây phút đều có Niết bàn, mỗi giây phút đều có lắng dịu, thảnh thơi, an lạc, tự do. Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, v.v… nếu thực tập đúng thì mỗi giây phút đều là an lạc, hạnh phúc, tự do, lắng dịu. Đó là con đường, là Niết bàn. Con đường chính là Niết bàn.</p>
<p style="text-align: right;"><em>Nguồn: langmai.org</em></p>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com/khong-co-con-duong-di-den-niet-ban-niet-ban-chinh-la-con-duong/">Không có con đường đi đến Niết bàn, Niết bàn chính là con đường</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com">Shop Chay Mộc</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://shop.chaymoc.com/khong-co-con-duong-di-den-niet-ban-niet-ban-chinh-la-con-duong/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
