<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Lưu trữ Ý niệm - Shop Chay Mộc</title>
	<atom:link href="https://shop.chaymoc.com/tag/y-niem/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link></link>
	<description>Một trang web mới sử dụng WordPress</description>
	<lastBuildDate>Tue, 16 May 2017 04:40:09 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.5.5</generator>
	<item>
		<title>Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt &#8211; Pháp Quán Phạm Chí Kinh</title>
		<link>https://shop.chaymoc.com/kinh-buong-bo-nam-bat/</link>
					<comments>https://shop.chaymoc.com/kinh-buong-bo-nam-bat/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[webmaster]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 16 May 2017 04:40:09 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Lời Phật dạy]]></category>
		<category><![CDATA[bình đẳng]]></category>
		<category><![CDATA[chân lý]]></category>
		<category><![CDATA[chủ thuyết]]></category>
		<category><![CDATA[đạo lý duyên khởi]]></category>
		<category><![CDATA[lễ nghi]]></category>
		<category><![CDATA[Ý niệm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chaymoc.com/?p=10936</guid>

					<description><![CDATA[<p>Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt (Pháp Quán Phạm Chí Kinh) Nghĩa Túc Kinh, Kinh thứ 12, Đại Tạng Tân Tu 198 (tương đương với Mahàviyùha Sutta,Sutta-Nipàta 895-914) Bối cảnh Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh...</p>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com/kinh-buong-bo-nam-bat/">Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt &#8211; Pháp Quán Phạm Chí Kinh</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com">Shop Chay Mộc</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><b>Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt<i><br />
</i></b><i>(Pháp Quán Phạm Chí Kinh)</i></p>
<p style="text-align: center;"><i>Nghĩa Túc Kinh, Kinh thứ 12, Đại Tạng Tân Tu 198<br />
(tương đương với </i><i>Mahàviyùha Sutta,Sutta-Nipàta 895-914)</i></p>
<p><b>Bối cảnh</b></p>
<p>Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một: Trong pháp hội lớn tại thành Ca Tỳ La Vệ có 500 vị khất sĩ tham dự, có cả sự có mặt của các thiên thần, địa thần mười phương, và bốn vị thiên vương, vị Phạm Chí Pháp Quán có mặt đang nghi ngờ về đạo lý duyên khởi, cho nên nhân đó Bụt nói kinh này.</p>
<p><a href="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/05/buddha-3.jpg"><img fetchpriority="high" decoding="async" class="aligncenter wp-image-10938 size-full" src="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/05/buddha-3.jpg" alt="Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt" width="1920" height="1068" /></a></p>
<p><i>1.   Khi đã bị kẹt vào cái thấy của mình rồi thì người ta ưa tuyên bố: “đây mới thật là chân lý.” Cái xảy ra sau đó hoặc là bị mọi người chống đối, hoặc được mọi người khen ngợi.</i><i></i></p>
<p><em>2.  Ít ai biết hổ thẹn về cái thấy còn thiếu sót của mình. Ít ai thấy rằng tranh cãi thường đưa tới một trong hai hậu quả ấy (một là hơn, một là thua). Vậy ta nên nhổ tận gốc cái ý muốn tranh cãi để thực tập mà đạt cho tới cái bình an, nơi đó không còn (nhu yếu) tranh cãi nữa.</em></p>
<p><i>3.  Tất cả các pháp đều có thể tính bình đẳng, giống như mặt đất. Chưa nếm trải được điều đó thì phải tìm cách thực chứng cho được. Nếu không thấy được cái nền tảng bình đẳng ấy thì làm sao có thể sống chung an lạc với nhau? Và làm sao để những gì mình thấy, nghe và nói không đem lại tranh chấp?</i></p>
<p><i>4.  Ham được người ta khen ngợi là nguyên nhân khiến cho kẻ khác không ưa thích mình. Kẹt vào những gì mình thấy và nghe, vướng vào nhận thức và lề thói tranh chấp lưỡng nguyên, những kẻ này ai có thể giúp cho họ sáng mắt ra được? Ái dục chưa được đoạn trừ, những kẻ ấy sẽ phải còn tiếp tục trong vòng luân hồi sinh tử.</i></p>
<p><i>5.  Nghĩ rằng sử dụng những cấm giới và nghi lễ mà mình đang hành trì sẽ đem lại cho mình sự thanh tịnh, nghĩ rằng mình đã khám phá và nắm được chân lý, người kia chưa thực sự đạt tới tịnh hóa, người ấy chỉ có chủ tâm gặt hái tiếng ngợi khen của thế gian</i></p>
<p><em>6.  Không có tuệ giác mà đi tìm sự hành trì, đó là nguyên nhân đưa tới bao lầm lỡ, cũng như đi tìm sự thanh tịnh nơi sự học hỏi các chủ thuyết thì tự mình đánh mất giáo nghĩa chân thật và tiếp tục đi vào cái khổ của sinh tử.</em></p>
<p><i>7. Không</i><i> nỗ lực trong công phu hành trì thật sự, khi mà cái hiểu và cái làm chỉ còn nằm trong phạm vi tư duy, thì người ta không thể chấm dứt được sinh tử luân hồi. Tuệ giác đối với người ấy chỉ là những lý thuyết.</i></p>
<p><i>8. Buông bỏ tất cả những lễ nghi và cấm giới, buông bỏ tất cả mọi ý niệm về tội và phúc, thanh tịnh và ô nhiễm, lúc đó vị hành giả mới không còn bị vướng vào những lo lắng u sầu về vấn đề thanh tịnh và nhiễm ô.</i></p>
<p><i>9.  Nói rằng tu theo phép này là tốt nhất, và ai không tu tập theo phép này đều là những người đang lầm đường, những người đã đi lạc quá xa, nói như thế thì sẽ gây tranh chấp biến loạn. Ai cũng chỉ nhân danh chân lý để đi tìm kiếm chút lợi danh trong cuộc đời.</i></p>
<p><em>10.  Cho giáo lý của mình là toàn hảo, và các giáo lý khác đều còn thô lậu và có nhiều khiếm khuyết, không có giáo lý nào so được với giáo lý của mình, đó là lý do sinh ra tranh chấp và thù oán. Ai cũng có khuynh hướng muốn nói rằng cái thấy và cái hành trì của mình là cách thức duy nhất giữ cho mình không bị sa đọa vào ô nhiễm.</em></p>
<p><i>11.  Ai cũng cho chủ thuyết của mình là hay nhất, không có giáo pháp nào có lợi lạc bằng, không có nguồn tuệ giác nào khác có thể đem tới sự tịnh hóa như nguồn tuệ giác của mình. Chính vì thế mà người ta bị kẹt cứng vào cái chủ thuyết của chính mình không thoát ra được.</i></p>
<p><em>12.  Mỗi người tự tôn sùng cái chủ thuyết của mình, cho đó là điểm cao nhất của sự học hỏi, đã từng được chính bậc đạo sư đích thân diễn giải. Sự thật là chủ thuyết kia chỉ là một lý thuyết suông, không phải là một pháp môn thực tập. Trong khi đó, sự tịnh hóa chỉ có thể xảy ra khi người ta hết lòng hành trì.</em></p>
<p><i>13.  Kẻ này nói sự thật là cái này, kẻ kia nói sự thật là cái kia, và cái thấy nào cũng có thể là đúng, cũng có thể là sai. Nhưng một khi đã bị kẹt vào cái thấy của mình rồi thì người ta dễ gây thù oán với kẻ khác. Lý do là khi mình đã cố chấp cho cái thấy của mình là cao nhất thì mình luôn luôn nói giọng tự cao tự đại.</i></p>
<p><i>14.Chấp nhận và vướng vào một chủ thuyết, cho rằng nhờ đó mà mình đã được giải thoát, tâm ý tuy có tin tưởng vào điều này nhưng trên thực tế chẳng có cái giải thoát thực sự nào xảy ra cả. Lý do là tại mình chỉ biết nói cho hay, và cái chủ thuyết kia chưa bao giờ đem lại sự giải thoát cho mình cả.</i></p>
<p><i>15.  Hãy quán sát người đời đang kẹt vào tâm (ý niệm) và vật, đang lấy trí năng của họ để tìm hiểu về hai cái ấy. Dù ta có tìm hiểu được bao nhiêu về hai cái ấy thì cũng không phải nhờ thế mà ta được thanh tịnh và chuyển hóa.</i></p>
<p><i>16.  Có được một pháp môn thực tập có công năng đưa tới tuệ giác thì mình không còn bị hệ lụy (vào bất cứ một chủ thuyết nào). Cái thấy và cái biết (của mình), mình cũng không bị vướng mắc vào đó. Không đi tìm cái khuyết điểm của người, chỉ lo hành trì cho đúng pháp, người hành giả vượt qua mọi tranh cãi, không chấp nhận tham dự vào bất cứ một cuộc tranh cãi nào.</i></p>
<p><em>17.  Thực tập quán chiếu cho đến nơi đến chốn, không đi theo một học thuyết nào, không chấp chặt một ý thức hệ nào, như đóng chặt tất cả các cánh cửa để phòng ngự mọi tham đắm, người hành giả chỉ thực tập quán chiếu mà không đi tìm những lý thuyết hấp dẫn kỳ lạ.</em></p>
<p><em>18.  Bậc Mâu Ni đã buông bỏ được tất cả những gì mà người đời thường hay nắm bắt, không còn lận đận với sở thủ và sở sinh (đối tượng nắm bắt và đối tượng trở thành). Vị ấy không chọn lựa một quan điểm hay đi theo một phe phái nào trong những cuộc tranh chấp và cảm thấy thanh thản tự tại giữa đám quần chúng phàm tục đang buồn khổ và oán ghét nhau.</em></p>
<p><em>19.  Đã buông bỏ những ham muốn ngày xưa, và không đang xây dựng một ham muốn mới nào, vị ấy không còn cầu mong gì nữa, và do đó sẽ không còn vướng bận gì nữa. Vị ấy đã thoát ra khỏi mọi tín ngưỡng sai lạc, đã dũng mãnh bước qua, đã vượt thoát thời gian, đi vào kiếp ngoại.</em></p>
<p><em>20.  Vị ấy không còn nghi nan gì nữa đối với tất cả các chủ thuyết, không còn bị kẹt vào bất cứ một cái gì đã nghe, đã thấy và đã nghĩ. Sau khi buông bỏ được gánh nặng, vị Mâu Ni đã thực sự giải thoát, không còn mong mỏi một cái gì nữa cả, hoặc cho quá khứ hoặc cho tương lai.</em></p>
<p><b>Đại Ý</b></p>
<p>Kinh này nối tiếp đề tài kinh thứ mười một và cũng nói về những tai hại do sự nắm bắt chân lý gây ra. Nhưng kinh cũng đưa ta đi xa hơn.</p>
<p>Người xuất sĩ phải quyết tâm diệt trừ ái dục, đừng để vướng vào nhận thức lưỡng nguyên và tranh chấp lưỡng nguyên. Đừng để thì giờ đi tìm và gặt hái tiếng khen ngợi của thế gian. Đó là tinh yếu của các bài thi kệ thứ tư và thứ năm của kinh. Muốn vượt thoát cái thấy nhị nguyên, phải quán chiếu về tính bình đẳng của vạn pháp để thấy được ta trong người, người trong ta, cái này trong cái kia, cái kia trong cái này. Chứng nghiệm được thể tính bình đẳng của vạn pháp sẽ không còn nhu yếu tự hào và tranh cãi. Đừng vướng vào bất cứ một chủ thuyết nào, một tư kiến nào, vì tất cả đều là lý thuyết suông, không phải là pháp môn thực tập. Không có công năng giúp ta chuyển hóa và trị liệu. Đó là thông điệp của bài thi kệ thứ mười hai.</p>
<p>Vị mâu ni là người buông bỏ được mọi nắm bắt bởi vì vị ấy thấy được chân lý không phải là một đối tượng có thể nắm bắt. Vị mâu ni cũng không mong cầu trở thành, bởi vì thấy được rằng không có đối tượng trở thành. Cũng như sóng đã là nước, sóng không cần đi tìm để nắm bắt nước, để trở thành nước. Vị mâu ni buông bỏ mọi trông cầu, dù là trông cầu vượt thoát sinh tử. Bởi vì vị ấy đã thoát ra khỏi mọi tín ngưỡng sai lạc, trong đó có ý niệm kiếp này và kiếp sau. Bởi vì vị ấy đã thoát ra được ý niệm thời gian, đi vào kiếp ngoại. Đây là chất liệu của giáo lý buông bỏ bốn ý niệm ngã, nhân, chúng sinh và thọ giả của kinh Kim Cương và giáo lý thọ mạng vô lượng của kinh Pháp Hoa  sau này.</p>
<p>Vị mâu ni là người đã buông bỏ được mọi gánh nặng, nhất là gánh nặng trông cầu.<br />
<b>Bài kệ 1 </b><br />
Như nhân duyên kiến hữu ngôn    如  因  緣  見  有  言<br />
Như dĩ thủ tất thuyết thiện    如  已  取  悉  說  善<br />
Nhất thiết bỉ ngã diệc khinh    一 切 彼 我 亦 輕<br />
Diệc hoặc trí tại thiện duyên    亦 或 致 在 善 緣<br />
<b>Bài kệ 2 </b><br />
Thiểu tự tri hữu tàm tu   少  自  知  有  慚  羞<br />
Tranh biến bổn thuyết lưỡng quả   諍  變  本  說  兩  果<br />
Kiến như thị xả  biến bổn   見 如 是 捨 變 本<br />
Nguyện  quán an  vô biến    xứ 願 觀 安 無 變 處<br />
<b>Bài kệ 3 </b><br />
Nhất thiết bình diệc như địa    一 切 平 亦 如 地<br />
Thị vị thường đương kiến đẳng    是 未 嘗 當 見 等<br />
Bổn bất đẳng tùng hà đồng    本  不  等  從  何  同<br />
Kiến văn thuyết mạc tác biến    見  聞  說  莫  作  變<br />
<b>Bài kệ 4 </b><br />
Ỷ trước thị chúng khả ác    猗 著 是 眾 可 惡<br />
Khả kiến văn diệc sở niệm    可 見 聞 亦 所 念<br />
Vũ xuất tịnh thùy vi minh    雨 出 淨 誰 為 明<br />
Ái vị trừ thân phục thân    愛 未 除 身 復 身<br />
<b>Bài kệ 5 </b><br />
Dĩ giới nhiếp sở phạm tịnh    以 戒 攝 所 犯 淨<br />
Hành đế tường dĩ cụ trú    行  諦  祥  已  具  住<br />
Ư thị ninh kinh chí tịnh    於  是  寧  經  至  淨<br />
Khả khủng thế tại thiện thuyết    可 恐 世 在 善 說<br />
<b>Bài kệ 6 </b><br />
Dĩ ly đế cánh cầu hành    已  離  諦  更  求  行<br />
Tất tùng tội nhân duyên thọ    悉  從  罪  因  緣  受<br />
Diệc như thuyết lực cầu tịnh    亦 如 說 力 求 淨<br />
Tự nghĩa  thất sanh tử khổ    自 義 失 生 死 苦<br />
<b>Bài kệ 7</b><br />
Hành lực cầu diệc bất thuyết    行 力 求 亦 不 說<br />
Nhãn như hành diệc tư duy    眼 如 行 亦 思 惟<br />
Tử sanh vô tận tùng thị    死 生 無 盡 從 是<br />
Như thị tuệ  diệc như thuyết    如 是 慧 亦 如 說<br />
<b>Bài kệ 8 </b><br />
Giới bỉ hành nhất thiết xả    戒  彼  行  一  切  捨<br />
Tội diệc phước xả viễn khứ    罪 亦 福 捨 遠 去<br />
Tịnh diệc cấu bất niệm giác    淨  亦  垢  不  念  覺<br />
Vô triêm ô tịnh ai  thọ    無 沾 污 淨 哀 受<br />
<b>Bài kệ 9 </b><br />
Tu thị pháp độ bỉ nhất    修  是  法  度  彼  一<br />
Thuyết vô hành vi viễn khi    說  無  行  為  遠  欺<br />
Thọ như thị tiện tăng biến    受  如  是  便  增  變<br />
Các nhân đế thế tà lợi    各 因 諦 世 邪 利<br />
<b>Bài kệ 10 </b><br />
Tự sở Pháp tiện xưng cụ   自  所  法  便  稱  具<br />
Kiến bỉ Pháp cật vi lậu    見  彼  法  詰  為  漏<br />
Vô đẳng hành chuyển tướng oán    無  等 行  轉  相   怨<br />
Tự kiến  hành bất tùy ô    自  見  行  不  隨  污</p>
<p><b>Bài kệ 11</b><br />
Phàm sở thuyết hiệt đại khủng    凡 所 說 黠 代 恐<br />
Vô ư pháp hữu sở ích    無 於 法 有 所 益<br />
Vô tuệ chúng  dị thuyết  tịnh    無 慧 眾 異 說 淨<br />
Sở  hệ  trước trú các kiên    所 繫 著 住 各 堅<br />
<b>Bài kệ 12 </b><br />
Các tôn Pháp như văn chỉ    各  尊  法  如  聞  止<br />
Diễn như giải tự sư thuyết    演  如  解  自  師  說<br />
Vô Pháp hành đãn hữu ngôn    無  法  行  但  有  言<br />
Bỉ sở tịnh nhân nhất tâm    彼  所  淨  因  一  心<br />
<b>Bài kệ 13 </b><br />
Ngôn như thị bỉ diệc thuyết    言  如  是  彼  亦  說<br />
Nhất sở kiến tùng tịnh đọa    一  所  見  從  淨  墮<br />
Tiện tự kiến oán sở tác    便 自 見 怨 所 作<br />
Tọa  thắng  tuệ  tự đại thuyết   坐 勝 慧 自 大 說<br />
<b>Bài kệ 14</b><br />
Sở nhiếp trước cầu tiện thoát     所 攝 著 求 便 脫<br />
Niệm sở tín vô sở trú    念 所 信 無 所 住<br />
Bổn sở nhân  tại  hảo  thuyết    本 所 因 在 好 說<br />
Tịnh hạnh tại  bỉ vị trừ    淨 行 在 彼 未 除<br />
<b>Bài kệ 15 </b><br />
Quán thế nhân kiến danh sắc    觀  世  人  見  名  色<br />
Dĩ kỳ trí như thọ tri    以  其  智  如 受  知<br />
Dục kiến đa thiểu ngã hữu    欲 見 多 少 我 有<br />
Bất tùng thị  thiện tịnh  hữu    不 從 是 善 淨 有<br />
<b>Bài kệ 16 </b><br />
Hữu tuệ hành lụy vô hữu    有 慧 行 累 無 有<br />
Tri diệc kiến chánh dĩ thủ    知  亦  見  正  以  取<br />
Kiến vô quá thị pháp hành    見 無 過 是 法 行<br />
Độ thị loạn bất cánh thọ    度 是 亂 不 更 受<br />
<b>Bài kệ 17 </b><br />
Tuệ ý đáo vô sở chí    慧 意 到 無 所 至<br />
Bất kiến kiên thức sở giác    不 見 堅 識 所 覺<br />
Như quan bế chế sở trước    如 關 閉 制 所 著<br />
Đãn hành  quán vô thủ dị    但 行 觀 無 取 異<br />
<b>Bài kệ 18 </b><br />
Tôn đoạn thế sở thọ thủ    尊  斷  世  所  受  取<br />
Thủ dữ sanh bất ưng kiên    取  與  生  不  應  堅<br />
Tĩnh diệc loạn tại quán xả    靜 亦 亂 在 觀 捨<br />
Tại thị ác ai phàm  nhân    在 是 惡 哀 凡 人<br />
<b>Bài kệ 19 </b><br />
Khí cố thành tân  bất tạo    棄  故  成  新  不  造<br />
Vô sở dục  hà sở trước    無  所  欲  何  所  著<br />
Thoát tà tín dũng mãnh độ    脫 邪 信 勇 猛 度<br />
Tất dĩ thoát thế phi thế    悉 已 脫 世 非 世</p>
<p><b>Bài kệ 20 </b><br />
Nhất thiết pháp vô sở nghi    一  切  法  無  所 疑<br />
Tất kiến văn diệc hà niệm    悉  見  聞  亦  何  念<br />
Xả  trọng đảm tôn chánh thoát    捨 重 擔 尊 正 脫<br />
Bất nguyện quá thường lai kiến    不 願 過 常 來 見</p>
<p style="text-align: right;">THÍCH NHẤT HẠNH</p>
<p style="text-align: right;"><em>langmai.org</em></p>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com/kinh-buong-bo-nam-bat/">Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt &#8211; Pháp Quán Phạm Chí Kinh</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com">Shop Chay Mộc</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://shop.chaymoc.com/kinh-buong-bo-nam-bat/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ý niệm về đẹp, về xấu, về vui, về khổ chỉ là tâm thức cá nhân hay tâm thức cộng đồng?</title>
		<link>https://shop.chaymoc.com/y-niem-ve-dep-ve-xau-ve-vui-ve/</link>
					<comments>https://shop.chaymoc.com/y-niem-ve-dep-ve-xau-ve-vui-ve/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[webmaster]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 27 Apr 2017 09:10:34 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Lời Phật dạy]]></category>
		<category><![CDATA[đẹp]]></category>
		<category><![CDATA[khổ]]></category>
		<category><![CDATA[tâm thức cá nhân]]></category>
		<category><![CDATA[tâm thức cộng đồng]]></category>
		<category><![CDATA[vui]]></category>
		<category><![CDATA[xấu]]></category>
		<category><![CDATA[Ý niệm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chaymoc.com/?p=10591</guid>

					<description><![CDATA[<p>Bài tụng 3: Thân tâm và thế gian Hạt giống của thân tâm Giới, địa và thế gian Tất cả được cất chứa Nên thức gọi là tàng. Hạt giống của thân tâm: Chúng ta biết rằng những...</p>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com/y-niem-ve-dep-ve-xau-ve-vui-ve/">Ý niệm về đẹp, về xấu, về vui, về khổ chỉ là tâm thức cá nhân hay tâm thức cộng đồng?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com">Shop Chay Mộc</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h1 id="parent-fieldname-title" class="documentFirstHeading">Bài tụng 3: Thân tâm và thế gian</h1>
<div id="content-core">
<div id="parent-fieldname-text-2b5f7a99bf601efaa6b66b87b1bb9ef9" class="">
<p><b>Hạt giống của thân tâm<br />
Giới, địa và thế gian<br />
Tất cả được cất chứa<br />
Nên thức gọi là tàng.</b></p>
</div>
<div id="parent-fieldname-text-2b5f7a99bf601efaa6b66b87b1bb9ef9" class="">
<p><a href="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/04/chan-nhu.jpg"><img decoding="async" class="aligncenter wp-image-10654 size-full" src="http://chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/04/chan-nhu.jpg" alt="Thân tâm" width="800" height="445" srcset="https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/04/chan-nhu.jpg 800w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/04/chan-nhu-300x167.jpg 300w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/04/chan-nhu-768x427.jpg 768w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/04/chan-nhu-1x1.jpg 1w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/04/chan-nhu-10x6.jpg 10w, https://shop.chaymoc.com/wp-content/uploads/2017/04/chan-nhu-600x334.jpg 600w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></p>
<p><b><i>Hạt giống của thân tâm</i>: </b>Chúng ta biết rằng những cảm thọ, tri giác và tâm hành đều có gốc rễ trong Thức. Có một sự thực khó chấp nhận hơn: Thân thể cũng được phát hiện ra từ Thức. Nếu nói thân xuất phát từ thức thứ sáu hay thức thứ bảy thì khó chấp nhận. Nhưng nếu nói thân xuất phát từ Nhất thiết chủng thức thì hiểu được. Tại vì tàng thức chứa tất cả những hạt giống trong đó có hạt giống của thân (căn thân). Cần nhắc lại rằng tàng thức gồm có tàng thức của cá nhân và tàng thức của tập thể.</p>
<p>Ta nhớ lại ngày xưa ở Việt Nam khi các cô bắt đầu mặc áo dài tà ngắn gọi là &#8220;áo dài mini&#8221; thì có nhiều người đi Pháp về thấy áo dài mini sao mà xấu quá, tại vì khi họ lìa quê hương thì tà áo dài rất dài, rất tha thướt. Nhưng ở Việt Nam một thời gian thì họ lại thấy áo dài mini đẹp. Đó là vì ảnh hưởng của tâm thức cộng đồng, nó tạo ra một cái mốt. Mốt là sản phẩm của tâm thức cộng đồng. Ban đầu là sản phẩm của tâm thức cá nhân, sau trở thành tâm thức của cộng đồng. Một nền dân chủ, một thể chế chính trị hay một phong trào nào đó cũng đều do tâm thức cộng đồng tạo nên. Có một giai đoạn mà trên thế giới nước nào cũng muốn chứng tỏ là họ thương thuyền nhân tị nạn. Hồi đó cứu giúp thuyền nhân là một phong trào, nhưng rồi sau họ bỏ luôn. Phong trào đó là do tâm thức cộng đồng của một số nhà báo, nhà nhân bản, nhà chính trị xướng xuất.</p>
<p>Ý niệm về đẹp, về xấu, về vui, về khổ không hẳn chỉ là tâm thức cá nhân. Nó còn phản chiếu ý niệm về đẹp, về xấu, về vui, về khổ của nhiều người. Nếu ai cũng nói cái đó không đẹp thì tự nhiên ta thấy cái đó không còn đẹp nữa. Nếu ai cũng nói cái đó đẹp thì tự nhiên ta thấy đẹp. Kỳ lạ như vậy đó. Vì vậy cho nên núi Phú sĩ hay thân thể chúng ta cũng do tâm thức cộng đồng biểu hiện, tất cả đều nằm trong tâm thức cộng đồng cả. Không những cảm thọ, tri giác, tâm hành đều có hạt giống ở trong tàng thức mà sắc thân cũng có hạt giống ở trong tàng thức. Sắc thân do tâm thức biểu hiện và sự mạnh khỏe hay đau yếu của thân thể cũng do tâm thức tạo ra. Điều này ban đầu có thể là khó hiểu nhưng học và tu từ từ chúng ta sẽ hiểu.</p>
<p><b><i>Giới địa và thế gian:</i></b> Giới (dhātu) là cõi mà chúng ta ở. Giới cũng do tâm thức biểu hiện. Phật giáo nói tới ba giới: dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Cõi dục hay dục giới (kāmadhātu) là cõi có ham muốn, sân si, ngạo mạn và ảo tưởng. Chúng sinh trong cõi dục rất đau khổ vì họ luôn luôn chạy theo chuyện gì đó. Khi chúng ta chọn lối sống giản dị, bỏ bớt ham muốn đi, là chúng ta sống trong sắc giới. Cõi sắc (rūpadhātu) là cõi vật chất nhưng nhẹ nhàng hơn cõi dục.</p>
<p>Cõi vô sắc (arūpadhātu) là cõi trong đó không có vật chất, chỉ có những cái không phải vật chất, ví dụ như năng lượng. Năng lượng cũng là vật chất nhưng rất loãng. Nhiều nhà khoa học nói vật chất là năng lượng cô đọng và năng lượng là vật chất pha loãng. Cõi vô sắc là cõi có nhiều năng lượng hơn. Cái tâm của mình, cái giận, cái khổ của mình cũng là năng lượng. Chúng ta sẽ nói rõ hơn về các giới trong bài tụng số 9.</p>
<p>Mục tiêu tu học là chuyển hóa các khổ đau trong các cõi. Khi nhìn sâu để hiểu được bản chất của tham đắm, ta sẽ thoát được cõi dục để vào cõi sắc. Khi nhìn sâu hơn nữa, ta có thể xả bỏ được các ràng buộc và đi vào cõi vô sắc. Cõi vô sắc là cõi có nhiều năng lượng hơn. Tuy nhiên trong cõi vô sắc, cũng vẫn có khổ đau vì chúng ta còn những hạt giống ham muốn nằm sâu trong tàng thức.</p>
<p>Mỗi giới đều là biểu hiện của tâm thức cộng đồng sinh hoạt trong đó. Trong kinh có nói: &#8220;Tam giới bất an do như hỏa trạch&#8221; (ba cõi không yên, giống như nhà bốc lửa). Ba cõi bốc cháy là từ tâm thức biểu hiện hay nói cho đúng hơn từ tâm thức cộng đồng của chúng sanh biểu hiện. Ai tạo ra ba cõi bốc lửa? Chính chúng ta đã đốt cháy!</p>
<p>Hãy nói tới Làng Mai. Làng Mai mà thanh tịnh an lạc vui vẻ, có hạnh phúc là do ai tạo ra? Do tâm thức cộng đồng của chúng ta. Nếu Làng Mai bốc cháy là do ai tạo ra? Chúng ta tạo ra phải không? Làng Mai là một cõi nho nhỏ, do tâm thức cộng đồng của người cư trú tại Làng Mai tạo ra. Cõi đó dễ chịu hay khó chịu đều do tâm thức cộng đồng tạo ra cả.</p>
<p>Địa (bhūmi): là những cõi mà các vị bồ tát đi ngang qua. Có tất cả mười địa. Cõi đầu là hoan hỉ địa. Nếu mới bước vào Làng Mai mà nghe vui và khỏe liền, nếu Làng Mai mà tạo được không khí tươi mát thì Làng Mai có thể gọi là một hoan hỉ địa, sơ địa của bồ tát. Chúng ta sẽ từ từ đi ngang qua những địa như là viễn hành địa, pháp vân địa trong đó có rất nhiều hạnh phúc, rất nhiều trí tuệ, rất nhiều từ bi.</p>
<p>Những địa đó do đâu mà phát hiện? Từ tâm thức chúng ta mà phát hiện. Nếu tu học giỏi, có nhiều an lạc thì chúng ta phát hiện ra những địa rất dễ thương. Những tịnh độ nho nhỏ mà chúng ta lập ra để tu tập và để làm hạnh phúc cho người là những địa nho nhỏ phát sanh từ tâm thức của chúng ta. Ví dụ có năm bảy người tu học có kết quả, có an lạc, có hạnh phúc, đi ra lập một trung tâm tu học, đem hạnh phúc của mình biểu hiện ra thành khung cảnh cho người khác tới tham dự. Thì đó là tạo một cái địa an tịnh. Và vùng đất tịnh (tịnh độ) ấy từ Tâm mà ra.</p>
<p>Thế gian gồm có hai: tình thế gian và khí thế gian. Tình thế gian là thế giới của loài hữu tình, nghĩa là loài người, cầm thú và cây cỏ. Xã hội loài người hay xã hội các loài khác cũng đều do tâm thức cộng đồng từ A-lại-gia mà biểu hiện. Khí thế gian là khung cảnh của núi, sông, không khí, trái đất, tầng ozone, mặt trời, mặt trăng và các thứ tương tự. Tình thế gian và khí thế gian là sáng tạo của tâm thức. Tàng thức duy trì tất cả những cái đó. Nó biểu hiện ra và nó duy trì hai thế gian đó. Tất cả đều vận hành theo một quy luật nhịp nhàng, tất cả đều phát hiện từ A-lại-gia cả.</p>
<p>Trong tác phẩm Bát Thức Quy Củ Tụng của Thầy Huyền Trang có câu về thức thứ tám (A-lại-gia Thức): &#8220;Thọ huân trì chủng căn thân khí&#8221;. Thọ huân là tiếp nhận và huân tập. A-lại-gia tiếp nhận và huân tập tất cả những kinh nghiệm, những tri giác từ các giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Trì chủng là duy trì, bảo tồn, không để mất đi. Đôi khi cứ tưởng là quên, là mất nhưng thật ra thì không quên, không mất. Căn tức là những cơ quan cảm giác như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Có sáu căn. Thân là một trong sáu căn. Khí là khí thế gian, là thiên nhiên, là vạn vật. Vậy thì câu &#8220;Thọ huân trì chủng căn thân khí&#8221; có nghĩa là công việc của thức thứ tám là &#8220;tiếp nhận, duy trì hạt giống, duy trì căn, thân và khí.&#8221;</p>
<p>Tâm Lý Học Tây phương đề cập đến ba múi quít ở giữa (thọ, tưởng, hành) nhiều hơn. Nhưng khi học về Thức chúng ta bắt đầu từ căn bản là thức thứ tám, điều mà chúng ta chưa bao giờ được học ở Tâm Lý Học Tây phương.</p>
<p>Nói tóm lại, tác dụng đầu tiên và căn bản của Thức là giữ gìn, duy trì. Mà duy trì ở đây là duy trì cả thế giới, duy trì hết tất cả những hạt giống. Thế giới có mặt như những hạt giống, thế giới có mặt như những biểu hiện của những hạt giống.</p>
<p style="text-align: right;">Thích Nhất Hạnh/langmai.org</p>
</div>
</div>
<p>Bài viết <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com/y-niem-ve-dep-ve-xau-ve-vui-ve/">Ý niệm về đẹp, về xấu, về vui, về khổ chỉ là tâm thức cá nhân hay tâm thức cộng đồng?</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a rel="nofollow" href="https://shop.chaymoc.com">Shop Chay Mộc</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://shop.chaymoc.com/y-niem-ve-dep-ve-xau-ve-vui-ve/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
